Nghịch lý bữa ăn đủ đầy nhưng nhiều người Việt vẫn thiếu vi chất

Dinh dưỡng
SKĐS - Chuyên gia cảnh báo "nạn đói tiềm ẩn" khi nhiều gia đình sử dụng thực phẩm chế biến sẵn, thức ăn nhanh, đồ uống có đường nhưng lại ít rau xanh, trái cây, thủy sản và các thực phẩm giàu vi chất. Trẻ em kén ăn, ăn lệch nhóm thực phẩm cũng làm tăng nguy cơ thiếu vi chất dinh dưỡng.

Mặc dù điều kiện kinh tế và chất lượng bữa ăn của người dân đã được cải thiện đáng kể trong nhiều năm qua, song tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng (VCDD) tại Việt Nam vẫn còn phổ biến, đặc biệt ở trẻ em, phụ nữ mang thai và người sống tại vùng khó khăn.

Theo các chuyên gia dinh dưỡng, đây là vấn đề "thiếu đói tiềm ẩn", âm thầm ảnh hưởng đến tầm vóc, miễn dịch và sự phát triển trí tuệ của cộng đồng.

Ăn no nhưng chưa đủ vi chất

PGS.TS Nguyễn Trọng Hưng - Giám đốc Trung tâm tư vấn, phục hồi dinh dưỡng và kiểm soát béo phì, Viện Dinh dưỡng cho biết, nhiều người hiện nay có xu hướng ăn no nhưng thiếu vi chất thiết yếu. Khẩu phần ăn mất cân đối, thiếu đa dạng thực phẩm khiến cơ thể không được cung cấp đầy đủ các vitamin và khoáng chất cần thiết như sắt, kẽm, vitamin A, vitamin D, iod…

Một trong những nguyên nhân quan trọng là sự thay đổi thói quen ăn uống. Nhiều gia đình sử dụng thực phẩm chế biến sẵn, thức ăn nhanh, đồ uống có đường nhưng lại ít rau xanh, trái cây, thủy sản và các thực phẩm giàu vi chất. Trẻ em kén ăn, ăn lệch nhóm thực phẩm cũng làm tăng nguy cơ thiếu VCDD.

Nghịch lý bữa ăn đủ đầy nhưng nhiều người Việt vẫn thiếu vi chất- Ảnh 1.

PGS.TS Nguyễn Trọng Hưng tư vấn dinh dưỡng cho người dân trong Ngày Sức khỏe toàn dân 7/4/2026.

Theo PGS Hưng, ngay cả ở khu vực thành thị, nơi điều kiện kinh tế tốt hơn, tình trạng thiếu vi chất vẫn gặp khá nhiều do chế độ ăn chưa hợp lý và lối sống ít tiếp xúc ánh nắng, ít vận động. Trong khi đó, ở vùng sâu vùng xa, khó khăn về điều kiện kinh tế, khả năng tiếp cận thực phẩm đa dạng và dịch vụ y tế tiếp tục là rào cản lớn.

BS Trịnh Hồng Sơn - Giám đốc Trung tâm Giáo dục Truyền thông dinh dưỡng, Viện Dinh dưỡng cảnh báo, thiếu năng lượng dễ nhận biết, trong khi thiếu vi chất thường âm thầm, khó phát hiện nhưng để lại hậu quả lâu dài ở trẻ nhỏ.

"Nhiều trường hợp thiếu vi chất không biểu hiện rầm rộ nên dễ bị bỏ qua. Khi trẻ chậm tăng trưởng, biếng ăn, suy giảm miễn dịch hoặc người lớn mệt mỏi kéo dài thì tình trạng thiếu hụt có thể đã diễn ra từ trước đó", BS Sơn nói.

Nghịch lý bữa ăn đủ đầy nhưng nhiều người Việt vẫn thiếu vi chất- Ảnh 2.

Một số bệnh xảy ra khi thiếu vi chất dinh dưỡng.

Cần "tô màu" cho từng bữa ăn

Để cải thiện tình trạng này, PGS.TS Nguyễn Trọng Hưng cho rằng cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp như nâng cao nhận thức cộng đồng về dinh dưỡng hợp lý; tăng cường truyền thông giáo dục dinh dưỡng; duy trì các chương trình bổ sung vi chất cho nhóm nguy cơ cao; khuyến khích sử dụng thực phẩm tăng cường vi chất.

Bên cạnh đó, mỗi gia đình cần xây dựng chế độ ăn cân đối, đa dạng thực phẩm, ưu tiên thực phẩm tươi, hạn chế đồ ăn chế biến sẵn. Với trẻ nhỏ, cha mẹ cần theo dõi tăng trưởng định kỳ và bổ sung vi chất theo hướng dẫn của nhân viên y tế, tránh tự ý sử dụng kéo dài hoặc lạm dụng các sản phẩm bổ sung.

ThS.BS Trịnh Hồng Sơn nhấn mạnh, cha mẹ cần biết cách "tô màu" bữa ăn cho trẻ nhằm bảo đảm cung cấp đầy đủ dưỡng chất. Theo đó, trong mỗi bữa ăn chính của gia đình luôn phải bảo đảm có mặt đầy đủ các nhóm:

  • Nhóm bột đường (gạo, mì, ngô, khoai…);
  • Nhóm chất đạm (thịt, cá, trứng, sữa, tôm, cua, đậu đỗ…);
  • Nhóm chất béo (mỡ động vật, dầu thực vật);
  • Nhóm vitamin và khoáng chất (rau xanh và quả chín).

Chuyên gia cũng khuyến khích các gia đình thường xuyên thay đổi món ăn, đa dạng nguồn thực phẩm và cố gắng sử dụng từ 15 - 20 loại thực phẩm mỗi ngày, kể cả gia vị, để tăng khả năng cung cấp vi chất cho cơ thể.

Nghịch lý bữa ăn đủ đầy nhưng nhiều người Việt vẫn thiếu vi chất- Ảnh 3.

ThS.BS Trịnh Hồng Sơn chia sẻ về phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng.

Ngoài ra, cần tăng cường rau xanh và trái cây với nhiều màu sắc khác nhau trong khẩu phần hàng ngày bởi mỗi nhóm màu đều chứa những dưỡng chất đặc trưng.

Cụ thể, rau lá xanh đậm như rau cải, rau muống, súp lơ xanh… giàu folate (vitamin B9), vitamin C, vitamin K, sắt, canxi, magiê và kali. Rau, quả màu đỏ, tím như cà chua, củ cải đỏ, bắp cải tím, củ dền, thanh long đỏ… chứa nhiều khoáng chất cùng lycopene, anthocyanin có lợi cho tim mạch, hỗ trợ chống viêm và chống oxy hóa. Trong khi đó, nhóm rau, quả màu vàng, cam như cà rốt, bí đỏ, đu đủ, xoài… giàu beta-caroten - tiền vitamin A giúp tăng cường thị lực, bảo vệ da và hỗ trợ miễn dịch.

"Người trưởng thành cần ăn tối thiểu 400g rau và quả mỗi ngày để cung cấp đủ vi chất dinh dưỡng, chất xơ và các dưỡng chất thực vật cần thiết cho cơ thể", BS Sơn khuyến cáo.

Nghịch lý bữa ăn đủ đầy nhưng nhiều người Việt vẫn thiếu vi chất- Ảnh 4.

ThS.BS Nguyễn Lan Phương thông tin về Nhu cầu Dinh dưỡng khuyến nghị 2026 (NCDDKN 2026).

Chuyển hướng tiếp cận phù hợp với lối sống hiện đại

Theo ThS.BS Nguyễn Lan Phương - Phó Trưởng khoa Vi chất dinh dưỡng, Viện Dinh dưỡng, bối cảnh dinh dưỡng của Việt Nam trong giai đoạn mới đã có nhiều thay đổi rõ rệt so với giai đoạn trước đây. 

Nếu như giai đoạn 2011–2020, trọng tâm của ngành y tế chủ yếu tập trung vào cải thiện tầm vóc, giảm suy dinh dưỡng và thiếu vi chất dinh dưỡng, thì đến năm 2026, Việt Nam phải đối mặt đồng thời với “3 gánh nặng” về dinh dưỡng gồm: suy dinh dưỡng tại các vùng khó khăn, thiếu vi chất dinh dưỡng và tình trạng thừa cân, béo phì cùng các bệnh mạn tính không lây liên quan đến dinh dưỡng.

Điểm mới quan trọng của NCDDKN 2026 là sự chuyển dịch từ cách tiếp cận tập trung chủ yếu vào thiếu dinh dưỡng sang tiếp cận toàn diện hơn, nhằm xử lý đồng thời cả thiếu và thừa dinh dưỡng trong cộng đồng. 

"Các chỉ số, khuyến nghị và giải pháp dinh dưỡng được điều chỉnh phù hợp hơn với lối sống hiện đại, mức độ đô thị hóa cao, giảm vận động thể lực và thay đổi thói quen ăn uống của người Việt Nam trong thập kỷ qua", ThS Phương chia sẻ.

Bên cạnh đó, NCDDKN 2026 chú trọng nhiều hơn đến phòng ngừa bệnh không lây nhiễm thông qua chế độ ăn hợp lý, kiểm soát tiêu thụ muối, đường, chất béo không lành mạnh, đồng thời tăng cường hoạt động thể lực và xây dựng lối sống khỏe mạnh. Đây được xem là bước thay đổi quan trọng nhằm đáp ứng thực trạng dinh dưỡng mới của Việt Nam, hướng tới nâng cao chất lượng dân số và sức khỏe cộng đồng một cách bền vững.

Thiếu kẽm, iod vẫn phổ biến

Theo kết quả Tổng điều tra Dinh dưỡng năm 2020 của Viện Dinh dưỡng, tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em từ 6 - 59 tháng tuổi là 18,1%; ở phụ nữ mang thai là 25,4% và phụ nữ tuổi sinh đẻ là 16,2%.

Tỷ lệ thiếu vitamin A tiền lâm sàng ở trẻ từ 6 - 59 tháng tuổi là 8,9%, trong đó khu vực Trung du và miền núi phía Bắc lên tới 13,4%. Tỷ lệ vitamin A trong sữa mẹ thấp ở phụ nữ cho con bú là 16,7%.

Đáng chú ý, tình trạng kẽm huyết thanh thấp vẫn còn phổ biến ở các nhóm nguy cơ cao. Tỷ lệ này ở phụ nữ mang thai là 63%; ở phụ nữ tuổi sinh đẻ là 44,3% và ở trẻ từ 6 - 59 tháng tuổi là 53,3%.

Bên cạnh đó, tình trạng thiếu iod vẫn chưa được kiểm soát đồng đều giữa các vùng miền. Trung vị iod niệu ở phụ nữ mang thai năm 2020 chỉ đạt 85µg/L. Trong khi đó, tỷ lệ hộ gia đình sử dụng muối iod đạt chuẩn theo khuyến nghị mới ở mức 21,2%.

Các chuyên gia cho rằng, những con số này cho thấy thiếu vi chất dinh dưỡng vẫn là vấn đề sức khỏe cộng đồng đáng lo ngại, cần tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp can thiệp, truyền thông và cải thiện chất lượng bữa ăn cho người dân.

Nghịch lý bữa ăn đủ đầy nhưng nhiều người Việt vẫn thiếu vi chất- Ảnh 5.

Đồ họa: Nguyễn Khánh

Có nên bổ sung vitamin A liều cao kéo dài cho trẻ?Có nên bổ sung vitamin A liều cao kéo dài cho trẻ?

SKĐS - Nhiều gia đình tự ý bổ sung vi chất kéo dài cho trẻ, trong đó có vitamin A liều cao. Chuyên gia cảnh báo, việc bổ sung tùy tiện có thể gây mất cân đối dinh dưỡng, thậm chí ảnh hưởng sức khỏe trẻ nếu dùng không đúng cách.

Phú Chinh
Ý kiến của bạn