Triển lãm ảnh Ký ức làng của nhà nhiếp ảnh Nguyễn Hữu Bảo, tại Hàng Da Galleria, Trung tâm thương mại Hàng Da, Hà Nội. Mở cửa đến ngày 15/10/2015. Cuộc bày ảnh lần này của Nguyễn Hữu Bảo có cái tên giản dị, nhưng không thể gợi hơn - Ký ức làng. Bấy lâu Nguyễn Hữu Bảo đã bị “đóng đinh” là nhà nhiếp ảnh của Hà Nội, triển lãm này đã làm vỡ òa một không gian khác trong ảnh của anh.

Bảo râu - nickname của nhà nhiếp ảnh Nguyễn Hữu Bảo những năm 80 trong nét vẽ của họa sĩ Bùi Xuân Phái (1984).
Là bạn Facebook của Nguyễn Hữu Bảo, có những lúc “nhặt” được status đại loại: Sấm chớp đùng đùng, có ai đi bát phố câu ảnh trong mưa với lão hâm này không.
Thì ra, có một nhiếp ảnh gia người Hà Nội suốt bốn mươi năm gần như cứ mưa là ra đường, mang theo chiếc máy ảnh, không định trước sẽ đi đâu về đâu, cứ men phố mà đi, không bố trí sắp đặt, chỉ là... rình “bắt quả tang”. Lại có một kíp làm phim truyền hình thực tế Kênh HD3 ở Đài truyền hình Kỹ thuật số VTC phát hiện ra nhiếp ảnh gia ấy, đã đội mưa ghi lại hình ảnh ông một mình đi trong mưa chụp ảnh, giữa cái tuần “Hà Nội mưa”, hệ lụy cơn bão rớt số 2 cuối mùa hè một năm nào đó. Và họ đã làm nên một “nét Hà Thành” sinh động tràn đầy cảm xúc bằng phim công nghệ cao. Hà Nội trong mưa cũng đẹp như Hà Nội ban mai. Còn hơn thế vì có chiều sâu của cảm xúc. “Sau báo động bỗng ồ cơn mưa lạ/ Trời hồn nhiên như con trẻ reo đùa”. Rồi “Mưa giòn tan như xúc lọ rửa trời!”.
Ngoài những bức ảnh mưa độc đáo đó, Hà Nội trong ảnh của Nguyễn Hữu Bảo là hàng trăm bức đã được chính anh lọc, bức nào cũng có thể phóng to. Nếu xếp ảnh theo chuyên đề thì đó là: Câu chuyện quanh Hồ Gươm, Ma-nơ-canh đường phố, Giấc ngủ trưa, Hà Nội có cầu Long Biên, Phố cổ Hà Nội bỏ thì thương vương thì tội, Thị dân... Bởi thế, vài tháng trước khi nghe anh kể sẽ có một triển lãm cá nhân vào đầu tháng 10, tôi đã lập tức nghĩ rằng đó sẽ là một “cuộc” về Hà Nội. Từ bao giờ, trong đầu chúng ta đã mặc định tháng 10 gắn với mảnh đất Thủ đô vậy nhỉ? Cũng lập tức, tôi biết mình đã nhầm. Đó sẽ là một cuộc bày ảnh chả có chút gì... dính líu đến Hà Nội, không “nhân dịp” gì. Chỉ là cuộc chơi ngẫu hứng đúng như tính cách của người chụp ảnh Nguyễn Hữu Bảo. Nhưng anh cũng kể thêm, cuối tháng 11 năm nay, sẽ có một triển lãm ảnh của anh về Hà Nội, do lời đề nghị của Trung tâm Bảo tồn phố cổ. Với kho ảnh thật sự đồ sộ, tôi nghĩ, anh làm thế nào để rút lại cuốn tiểu thuyết về Hà Nội ấy thành một truyện ngắn - để vừa vặn với một cuộc triển lãm? Quận Hoàn Kiếm - Những mảnh tình, đó là ý tưởng mới lóe lên trong đầu anh trong lúc khoanh vùng cho triển lãm này.
Cũng số ảnh trưng bày trong triển lãm lần này, tháng 9 năm ngoái đã được bày tại Paris, một trong những hoạt động văn hóa Kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Pháp - Việt. Vì sao lại là làng ở một cuộc như vậy? Ta sẽ hiểu sâu hơn qua phân tích của họa sĩ Lê Thiết Cương: “Nước Việt chính là nước - làng, làng Việt là làng nước. Muốn hiểu nước Việt, người Việt thì phải hiểu làng. Nói cách khác hiểu được làng thì sẽ hiểu nước Việt, làng chính là hình ảnh cô đọng của nước Việt. Trong làng có nước, trong nước có làng”. Một nhà sử học Thụy Điển cũng đã nói với Nguyễn Hữu Bảo rằng: So sánh hai quốc gia là so sánh hai nông thôn với nhau, mới biết được sự phát triển hay không của họ.
Ký ức làng của Nguyễn Hữu Bảo giới thiệu 4 ngôi làng của nước Việt: Làng vùng châu thổ sông Hồng, làng biển, bản làng Tây Bắc và Đông Bắc, buôn làng Tây Nguyên. Đương nhiên, châu thổ sông Hồng là vùng hiện thực anh gắn bó hơn cả và vì thế số lượng ảnh cũng nhiều nhất. Anh chỉ chụp những gì mình hiểu nhất. Điều đó giải thích vì sao anh chỉ có thể chụp những bức ảnh mang tính chất kỷ niệm khi ra nước ngoài. Anh đã không “cưỡi ngựa” xem... làng, để nhìn làng đơn thuần thị giác với những cổng làng, giếng làng, đình làng, đống rơm mùa gặt... Anh tẩy não mãi để bỏ ý thức đi chụp ảnh mà là đi chơi mang theo máy ảnh. Buông hết mình khi cầm máy - cái gì cũng chụp miễn là trong đó có Hữu Bảo. Kết quả là anh đã “được” nhiều hơn. Dẫu luôn là ngẫu hứng, là “bắt sống” chứ không sắp đặt, cái nhìn của một người hiểu về lịch sử của nước, của làng dĩ nhiên phải khác nghệ sĩ lang thang đi tìm cái đẹp thuần túy. Khi gặp cảnh là lúc phông văn hóa nền ùa ra, vì thế mà có những cú bấm máy ngẫu nhiên trong chiều sâu của cảm xúc, suy tư. Ảnh của anh không thể xem lướt. Mỗi bức ảnh đều ẩn chứa một thông tin, bắt người xem đọc đằng sau bức ảnh là cái gì. Ảnh chỉ thấy được mặt trước mới chỉ là ảnh xinh còn ảnh đọc được mặt sau của nó mới là ảnh đẹp, trong quan niệm của anh. Đó là nhiếp ảnh của khoảnh khắc - dài lâu. Ảnh là một cái cớ để nói lên lòng mình, mục tiêu chân thành làm trọng, ai chia sẻ được thì ấm lòng. Nhiếp ảnh phải truyền được cảm xúc của người chụp khiến người xem cảm nhận được những gì mà nhà nhiếp ảnh cảm thấy lúc bấm máy. Chẳng hạn như cảm thấy sự xao xác của lòng người trong một sáng lạnh bỗng nghe thấy tiếng chuông nhà thờ ở một làng đạo vùng châu thổ sông Hồng. Ảnh thì không mùi không vị, nhưng có thể khiến người ta cảm được mùi cá nướng ở một làng chài ven biển vào những hôm trời ít nắng; Hay là ngửi thấy mùi hoi hoi của những con thú cái trong bức ảnh chụp những cô gái Ba na tắm suối... Ký ức làng chính là ký ức về người làng. Kiếp người là kiếp làng, phận người là phận làng. Với một bức ảnh đẹp, người ta đọc được một tâm trạng. Cao hơn nữa, đọc được một số phận. Ảnh Nguyễn Hữu Bảo cho thấy mỗi người bình thường đều có một đời sống bên trong.
Nón đa năng.
Nguyễn Hữu Bảo tự nhận rằng anh mắc “bệnh của sử”, khi chụp thường bổ sung những chi tiết lịch sử vào trong ảnh. Bởi thế mà có những: Nửa thế kỷ trước em tôi cũng chơi như thế này, Lô cốt từ thời Pháp thuộc bên quốc lộ 5, Kẻng bom - kẻng chính là vỏ quả bom thời chiến tranh (Đình làng Diềm, Bắc Ninh)... Rồi bệnh của người cầm máy “trót” học hành bài bản về hội họa. Anh đã có 4 năm học vẽ thời niên thiếu (thời đó còn gọi là lớp Mỹ thuật dân lập) với các thầy Phạm Ái Ngà, Nguyễn Thị Khang, Phạm Viết Song, Đinh Minh. Khuôn hình bố cục là cái đầu tiên người ta nhìn vào một bức ảnh để biết có chuyên nghiệp hay không, đó cũng là thế mạnh của người am hiểu hội họa. Nhưng ưu điểm đôi khi cũng là nhược điểm. Bố cục chặt chẽ quá khiến ảnh như tranh, mất đi cái nồng nã tự nhiên của cuộc sống. 15 năm sau ngày cầm máy đầu tiên vào năm 1973, Nguyễn Hữu Bảo mới thoát khỏi cái bóng ám ảnh của ngôn ngữ hội họa để đòi lại ngôn ngữ nhiếp ảnh trong chính tác phẩm của mình. Để mỗi bức ảnh thực sự là một câu chuyện có đời sống riêng của nó, như tự nhiên/ như cách nhìn trong cảm xúc của anh.
Tôi lại thấy, ngoài sử ngoài hội họa, ảnh Nguyễn Hữu Bảo còn mang hơi thở của triết học. Chẳng hạn như bức Nón đa năng mà nhiều người rất thích, đã được nữ họa sĩ - nhà báo Đỗ Hương cảm thán: “Dẫu trai phố hay gái thành thị, chưa nói sinh ra và lớn lên ở nông thôn miền Bắc những năm kháng chiến, những năm xa xưa... có chiếc nón che nắng che mưa đội đầu, có ai mà không một lần dùng nón múc nước sông, nước giếng làng, thậm chí nước ao, nước ruộng uống đỡ cơn khát vào những ngày hè chói chang. Mấy ai chưa một lần ngả nón đặt mông ngồi vệ cỏ, hay dùng nón làm quạt ráo mồ hôi. Chạm mắt vào bức ảnh mà mọi dây thần kinh rung lên, nhớ mẹ, nhớ quê, nhớ những buổi ra đồng ngày sơ tán máy bay Mỹ những năm 60-70”. Ý nghĩa triết học là ở chỗ đào sâu vấn đề trong cùng một vị trí/ sự vật/ hiện tượng với một mô thức tri giác. Đây là lối tư duy trực quan, cho phép nhìn cuộc sống trong chiều sâu và chiều rộng “thiên biến vạn hóa”.
Từ cú bấm máy đầu tiên mở màn cho cuộc đời nhiếp ảnh vào năm 1973, khi mà anh cựu thực tập sinh chuyên ngành thiết kế máy tại Tiệp Khắc (Hữu Bảo là lực lượng được đào tạo cho hậu chiến, 1967-1970) còn chưa biết lắp phim, là một bức ảnh đen trắng, đến Ký ức làng với 100% cảm xúc đen trắng ngự trị trong ảnh là một bước đường dài. Trên con đường độc hành ấy, nhà nhiếp ảnh không hề đơn độc. Bởi ảnh của anh đã tìm được những trái tim đồng cảm, sẻ chia.
Võ Hồng Thu