Ngày ấy, vượt qua rừng già...

Văn hóa – Giải trí
Hồi đó là năm 1953, khi kháng chiến chống Pháp bước sang giai đoạn quyết liệt để dẫn đến Điện Biên Phủ. Hai vợ chồng tôi cùng trong quân đội, ở chiến khu Việt Bắc.

Sau một thời gian dài bặt tin, đột nhiên tôi nhận được bức thư của một người bạn Pháp gửi kèm cuốn hồi ký của anh.

Thư có đoạn viết: "Bốn mươi ba năm đã trôi qua từ khi tôi rời khỏi Việt Nam. Nhưng Việt Nam vẫn ở trong trái tim tôi. Như một Tổ quốc thứ hai, nơi tôi đã từng sống tuổi thanh niên, nơi tôi đã học được bao điều... Anh hãy thay tôi ôm hôn chị nhà và con gái anh mà tôi đã ôm trong tay đi xuyên rừng già".

Kéo pháo vượt qua rừng, núi trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Hồi đó là năm 1953, khi kháng chiến chống Pháp bước sang giai đoạn quyết liệt để dẫn đến Điện Biên Phủ. Hai vợ chồng tôi cùng trong quân đội, ở chiến khu Việt Bắc. Vợ tôi làm y tá, vừa sinh cháu gái đầu lòng, đặt tên là Đích Vân để kỷ niệm tên cơ quan mình công tác: Cục Địch vận trực thuộc Tổng cục chính trị, tôi làm trưởng ban giáo dục tù hàng binh Âu Phi. Cháu sinh được mấy tháng thì vợ tôi chuyển công tác từ Thái Nguyên sang Tuyên Quang. Đường núi, đi bộ lại qua rừng già (có gấu, sói...) mất mấy ngày. Cục bố trí cho anh Albert Clavier  26 tuổi, cán bộ người Pháp phụ trách một trại hàng binh Âu Phi đi cùng để trên đường giúp đỡ hai vợ chồng tôi và đứa con nhỏ.  Trèo đèo lội suối, vô cùng vất vả, nhất là ngoài việc đeo ba lô, còn phải thay nhau ẵm bé Đích Vân.

Bức thư của Albert (tên Việt là Ngô An, năm nay đã ở tuổi 80), nhắc lại cuộc vượt rừng già ngày ấy khiến tôi rất cảm động. Cảm động hơn nữa là khi đọc cuốn hồi ký của anh gửi tặng, trông thấy trên bìa sách 2 bức ảnh tương phản: Albert thời trẻ mặc quân phục tiểu đoàn trưởng Việt Nam và Albert ngày nay, một cụ già râu quai nón bạc phơ. Lần giở những trang đời của anh cho đến khi anh rời khỏi Việt Nam, lại thấp thoáng thấy hình bóng của chính bản thân mình những năm tháng ấy, vừa hùng vừa bi. Tên sách là Từ Đông Dương thuộc địa đến nước Việt Nam tự do với phụ đề “Tôi chẳng có gì phải ân hận” - đó là lời  trong một bài hát của nữ ca sĩ Pháp trứ danh Edith Piaf. Kết thúc cuốn sách, anh khẳng định: "Nếu sống lại cuộc đời, tôi sẽ sống nguyên như vậy", "Tôi chẳng có gì phải ân hận về một cuộc đời dù nó có những mâu thuẫu đau đớn", "Ở Việt Nam, lính địch trở thành bạn và đồng chí trong cuộc kháng chiến chống chủ nghĩa thực dân. Hòa bình lập lại, tôi lại trở thành kẻ thù chính trị trong khung cảnh xung đột ý thức hệ Xô-Trung. Tôi rời khỏi Việt Nam mà buồn khôn xiết. Ở Hunggari, tôi được đón tiếp là người tị nạn chính trị. Cuối cùng khi thay đổi chế độ, tôi lại bị tống khứ sang nước khác”.

"Đối với nước Pháp, tôi bị kết án tử hình chỉ vì hiểu trước mọi người về chính nghĩa của cuộc đấu tranh vì độc lập của dân tộc Việt Nam. Sau khi được ân xá, được làm đại diện cho những xí nghiệp công nghiệp xuất khẩu lớn nhất Pháp,  lại được trở lại làm thương mại với Việt Nam”.

Cách Albert kể chuyện rất hấp dẫn, văn phong giản dị, khiến người ta cảm thấy anh rất thật thà. Anh bảo: mình là người ít được học hành, chỉ có bằng sơ học yếu lược, tự học và do thực tế đào tạo, qua sự dìu dắt giác ngộ của Đảng Cộng sản Pháp.

Mảnh đời thứ nhất: Sinh ở miền núi Vercors, gia đình cố nông. Bố chết từ năm lên 5 tuổi, năm 10 tuổi đã phải đi chăn bò thuê, tuổi thiếu niên vào lúc Đức chiếm đóng Pháp. Người anh, đảng viên cộng sản, tham gia bí mật chống Đức bị tù ở trại giam Buchenwald, do đó, Albert cũng vào Đảng và đã hiểu thế nào là dân tộc bị áp bức. Nước Pháp được giải phóng, Albert chẳng có nghề nghiệp gì, anh đăng lính vào đội quân thuộc địa và bị đưa sang Việt Nam. Trước đó, người anh thoát trại giam ở Đức về giải thích cho Albert tính chất chiến tranh xâm lược của Pháp. Albert cố tình lẩn trốn không xuống tàu đi Việt Nam, nhưng trốn không thoát.

Mảnh đời thứ hai: ở Việt Nam (1947-1964). Albert ngày càng chứng kiến tính chất dã man của quân đội xâm lược. Ngay từ lúc đầu đến Lạng Sơn cho đến cuối năm 1949, khi anh quyết định vào vùng tự do theo hẳn Việt Minh, anh có cái may làm lính văn phòng nên chưa hề bắn phát đạn nào. Anh trở thành phát thanh viên của Kháng chiến kêu gọi binh sĩ Pháp đòi chấm dứt cuộc chiến phi nghĩa, anh trở thành phó trưởng trại hàng binh. Đến năm 1954, về Hà Nội giải phóng, anh làm phóng viên thể thao cho tạp chí Le Vietnam en marche mà tôi làm tổng biên tập. Anh lấy vợ Việt Nam và có hai con. Năm 1964, vào tuổi 36, anh phải rời Việt Nam do cuộc xung đột ý thức hệ Xô - Trung.

Mảnh đời thứ ba: 1964-1992. Tỵ nạn chính trị ở Hunggari, Albert hoạt động tích cực trong Liên đoàn thanh niên dân chủ thế giới (FMJD), đi nhiều nước vận động cho hòa bình thế giới và lên án chiến tranh Mỹ ở Việt Nam.

Năm 1966, Pháp ân xá các tội đào ngũ chiến tranh ở Việt Nam, Albert làm việc trong tổ chức doanh nghiệp của triệu phú đỏ Doumeng thuộc Đảng Cộng sản Pháp, trở thành một nhà doanh nghiệp xuất sắc hoạt động trong khối Đông Âu.

Mảnh đời thứ tư: di dưỡng tuổi già ở cố hương Pháp với con cháu (có thêm hai con từ trước đó với người vợ Việt thứ hai, sau cũng ly dị). Ông trở lại Việt Nam, gặp lại con gái là France mở hàng ăn ở Việt Nam. Albert viết lên trang cuối cuộc đời ông một câu thật cảm động: "Tôi đã yêu, tôi yêu Việt Nam như Tổ quốc thứ hai của tôi, có khi còn hơn thế nữa!".

Hữu Ngọc


Ý kiến của bạn