Mưu sinh trên biển

Xã hội
Cả chục ngày lênh đênh trên sóng nước, tôi được “sống” với biển Đông - nơi mà tôi chỉ được biết qua những phương tiện thông tin đại chúng. Nơi ấy đã cho tôi vô vàn những trải nghiệm thú vị và nếm đủ vị gian lao của đời ngư dân bám trùng khơi mưu sinh.

Cả chục ngày lênh đênh trên sóng nước, tôi được “sống” với biển Đông - nơi mà tôi chỉ được biết qua những phương tiện thông tin đại chúng. Nơi ấy đã cho tôi vô vàn những trải nghiệm thú vị và nếm đủ vị gian lao của đời ngư dân bám trùng khơi mưu sinh.

Mất cả mấy ngày năn nỉ, thề thốt đủ điều và chỉ thiếu đường lạy lục nữa ông Nguyễn Sang (58 tuổi) trú tại quận Sơn Trà (TP. Đà Nẵng) mới gật đầu đồng ý ngày kia sẽ cho tôi theo tàu đánh cá mà ông là thuyền trưởng. “Có say sóng không? Mới ra khơi mà đòi về thì cả tàu mất toi chuyến, trăm triệu tiền đầu tư đó. Biết để còn liệu…”. Nghe ông Sang hỏi, tôi cũng ngài ngại, nhưng bản tính liều vốn có cứ thúc: “Chỉ rượu bia mới làm cháu say còn ôtô, tàu hay sóng thì thoải mái. Nếu say, cháu tự… bơi về” – tôi cố tỏ ravững vàng, miễn sao được đi.

Y hẹn, tôi có mặt tại cảng Tiên Sa (Đà Nẵng). Ông Sang giới thiệu: “Cậu nhà báo này sẽ theo tàu mình chuyến này”. Bao nhiêu người có mặt trên tàu lúc ấy cứ trố mắt nhìn tôi như thể nhìn người từ trên trời rớt xuống và chẳng thuận bụng, nhưng nể ông Sang là thuyền trưởng nên vẫn lặng lẽ đồng ý có người lạ đi cùng.

Ra khơi và mẻ cá đầu tiên

Tàu của ông Sang là loại công suất 90CV, dài 18m, ngang gần 4m. Tôi, ông Sang cùng 5 thuyền viên đều là những tay lái tàu rất thành thạo để hoán đổi công việc rất linh hoạt. Suốt 3 giờ, cả 6 người quần quật với việc tiếp nhiên liệu, chuẩn bị đồ đạc. 5 giờ chiều, thuyền trưởng Sang lệnh rẽ sóng, khởi hành.

Mỗi chuyến đi biển “nuốt” hơn 500 tấn dầu, 200 cây đá để ướp cá, 300 lít nước ngọt (tạm đủ uống và mỗi lần 2 ca dội nước biển khi lặn xong) cùng muôn thứ lương thực, thực phẩm khác dành cho 7 người với hơn nửa tháng lênh đênh trên biển khơi. Tàu đi khoảng 1 hải lý (hơn 1,8km), tôi bắt đầu “thám hiểm” con tàu. Nó chẳng khác gì một ngôi nhà di động trên biển. Mỗi người 1 cái giường có gắn lên trên 1 tủ gỗ để đựng đồ cá nhân. Với những người quanh năm bám biển thì đây quả là một chốn khá lý tưởng.

Đang lần mò với từng ngóc ngách trên tàu, chợt thuyền viên Nguyễn Hữu Toàn (35 tuổi) – con trai ông Sang, gọi tôi đến và dặn dò những việc kiêng cữ trên tàu với một loạt “không”: la hét, gây gổ đánh nhau, làm rơi các vật dụng như dao, thìa xuống biển… Riêng tôi, không tự ý chụp ảnh khi chủ tàu chưa “ok”, đi đứng phải cẩn thận vì ở trên biển khác đất liền. Đặc biệt, khi viết bài không nên nêu rõ số hiệu tàu vì sau này sẽ làm ăn không được may mắn làm tôi suýt phì cười: “Khi say sóng cứ đọc nhẩm “bảy sáu bốn không” là sẽ đỡ”. Nhưng quái lạ, 4 chữ tưởng như “vớ vẩn” ấy lại là thần chú khi tôi say sóng đến quay cuồng sau này.

Tàu ra khơi chừng 40 hải lý, những đợt sóng cao đánh dập dồn, tàu cũng liên hồi dúi đầu xuống rồi lại ngửa lên. Tôi bắt đầu nếm được “vị” say sóng và nghĩ ra cách trị bằng việc hỏi chuyện với mọi người, đủ thứ… Nghe đâu phía đầu tàu là tiếng thuyền trưởng Sang liên lạc qua icom với các tàu bạn hỏi về tình hình đánh bắt, luồng cá. Rồi vang rõ là: “Có bão xa à, liên lạc với lực lượng Biên phòng biển”. Tôi rõ mặt sợ khi nghe có bão. “Cậu yên tâm. Bão xa thì hầu như ngày nào chẳng nghe báo. Quan trọng là có ảnh hưởng vào mình không thôi” – anh Toàn trấn an.

Các thuyền viên tỏ vẻ thân thiện dần với tôi, anh Toàn tự tay pha ấm trà. Ấm trà trên biển khác đất liền, được đặt dính vào miếng xốp vuông vắn cho khỏi rơi vỡ. Thuyền viên khác tên Hùng cho biết, dù tàu 90CV nhưng theo nghề phải lặn lội ra đến biển Đông vì kiếm cái ăn bằng nghề chụp lưới và câu. Vì đánh cá bằng đèn nên đêm làm, ngày ngủ. 50 hải lý, đã “lý tưởng” để tung mẻ cá đầu tiên. Các thuyền viên ăn qua bữa cơm để tiến hành. 8 rưỡi tối, tàu nổ máy, thu neo, thả dù và bật đèn để bắt đầu công việc đánh bắt. Hơn chục cái đèn ngàn oát chiếu sáng rực cả một khoảng biển để “hút” cá. Các ngư dân bắt đầu thả câu. Cá hố biển (thân dài, dẹt, quen sống gần đáy) có giá 80 - 120 nghìn/kg là mục tiêu.

Đêm đầu tiên ở biển Đông đón chúng tôi là một đêm trăng mờ cuối thu. Mặt biển khơi loáng ánh trăng. Người cách người 10m vẫn thấy nhau. Tôi mơ mộng theo cảnh đại đương thì sực nhớ, mình không đang làm thơ mà cần hòa mình cùng cả tàu. Gần 1 giờ sáng, cả 5 thuyền viên trên tàu chỉ câu được 1 số ít cá hố, chẳng bõ bèn, chưa chụp được mẻ lưới nào cả. Toàn vẫn thản nhiên: “Bóng chim tăm cá” mà. Chưa gặp luồng đó, gặp thì sẽ lãi khá nhưng cũng có khi tay không, lỗ cả tiền dầu”. Từ đó đến sáng, tàu chỉ đánh thêm được vài chục cân cá nục.

Gian nan bám biển

Mặt trời hừng Đông ló dạng, tàu buông neo, nghỉ ngơi. Trong lúc cầm tô mì tôm là khẩu phần sáng, anh Hùng tâm sự: “Chỉ ước có tiền mà đóng tàu lớn ra khơi xa hơn kiếm ăn mới dễ chứ gần bờ cũng hiếm rồi. Thỉnh thoảng lại lỗ cả mấy chục triệu tiền dầu và trang trải các thứ khác”.

Hùng tiếp: “Nhưng ước là vậy. Còn không vẫn bám biển chứ. Biển đảo của ta mà. Cái nghề nó thấm vô máu rồi. Bỏ đâu được! Mà bỏ thì giặc dã nó chiếm biển, chiếm cá mình mất…”. Nghề biển cũng theo mùa vụ, từ giữa tháng 9 âm lịch trở đi là phải hạn chế ra khơi vì mùa mưa bão. “Hồi mới vào nghề, trong 3 năm mà có đến 2 lần tui suýt “ở lại” giữa biển vì thiếu kinh nghiệm dự báo và tránh bão…” – anh Toàn kể về 16 năm tuổi nghiệp đã qua.

Giấc ngủ đầu tiên của tôi ở biển là vào ban ngày cùng 6 người trên tàu. Lại đến đêm mai, tàu đã bắt trúng luồng. Hơn 3 tạ cá hố cùng 4 tạ cá nục, bằng cả chục lần buông lưới. Mặt 6 người rạng rỡ lên, cơ bản đã “êm” cái phần tiền chi phí cho chuyến đi và dầu chạy máy.

Suốt 4 ngày lênh đênh trên tàu, tôi tỏ ý thăm dò việc muốn sang một tàu khác để được biết hơn. Thuyền trưởng Sang bảo: “Dễ ợt à!”, rồi ông bốc icom gọi: “Đang ở đâu? Tôi có khách muốn sang thăm tàu ông chơi được chớ?”. 2 giờ sau, tàu 90CV này tiến đến gần 1 tàu gõ câu mực xà, tôi được sang.

Những tàu mực thường xuất phát từ cảng biển Đà Nẵng để ra vùng ngư dân thường gọi là biển Chan Chu, cách Đà Nẵng hơn 120 hải lý. Năm 2006, bão Chan Chu đã quét qua vùng này, nhấn chìm nhiều tàu và ngư dân giữa biển khơi. Chủ tàu này là ông Hoàng Văn Minh (60 tuổi), trú quận Hải Châu. Câu mực là nghề dễ hái ra tiền nhưng phải “hành động” vào những đêm thật tối trời và thuộc hàng nguy hiểm nhất trong các món nghề biển. Phát hiện luồng mực, 8 chiếc thúng được thả xuống biển cùng 8 ngư dân. Mỗi thợ câu trang bị 1 bộ đàm, can nước và ít thức ăn đêm. Giữa đêm tối, 8 chiếc thúng (đường kính chưa đầy 3m, sâu chỉ hơn nửa mét) tròng trành giữa đại đương mù mịt bao la. Trên tàu chỉ có ông Minh trực bộ đàm. Ông liến thoắng kể liên hồi về nghề câu mực: “Trên 8 thúng kia có 4 đứa con tui làm cùng hơn chục năm. Nghề này sống chết cách nhau trong gang tấc. Đôi khi gặp cá dữ hay một cơn giông, lốc sóng bất ngờ là hiểm lắm”. Trời dần sáng, ông Minh vẫn giữ liên lạc với thợ câu qua icom. Tôi choàng tỉnh mới biết ông Minh ru mình ngủ lúc nào chẳng hay.

Chạng vạng sáng, ông Minh cho tàu chạy đi vớt thúng. Thúng xa nhất cách tàu 7 hải lý. Những thợ câu vừa lên tàu, chưa kịp ăn đã phải xẻ hết số mực câu được, phơi lên giàn là trần tàu, tránh ôi thiu. Đến 12g trưa mới xong, họ mới đi ngủ và chỉ ngủ được mỗi ngày chừng 4 tiếng. Thợ câu Nguyễn Văn Dạ, quê Quảng Nam, kể về lần suýt chìm hơn 1 năm trước: “2 giờ sáng, đang giữa biển thì một tàu bỗng lù lù tới, tui hét lên mà chẳng ai nghe, chỉ kịp lách thúng qua rồi nhảy ùm. Thân tàu và chân vịt suýt đè nát tui, may thúng chưa chìm nên trèo lên lại. Cả tháng sau khiếp hồn, chả dám ra biển nữa”.

 Thu mua cá tươi khi tàu về bến.Ảnh: TNP

Đoàn kết giữa trùng khơi

Xin trở lại bữa sáng thứ 4 tôi được ăn trên biển cũng là lúc mặt trời ló dạng. Nhìn thoáng qua ở khu vực bố trí rađa và các bảng thông số tọa độ, đâu như tàu đang ở  109.11 độ Đông, 12.49 độ Bắc. Từ phía xa, một tàu khác khang trang, đồ sộ hơn tàu mình. Ông Sang giải thích sự thắc mắc của tôi: Đó là tàu của Phú Yên. Nó dài chừng 26m, rộng 7m. Công suất 900CV – thuộc hàng “khủng” và có thể đi khơi xa nhất ở Việt Nam. “Đi tàu ấy thì khỏi lo, đủ trụ vững trong gió cấp 10”. Thuyền trưởng Sang giới thiệu, tàu ấy có thể chứa cả 50 tấn cá, về bán 4 - 5 tỷ đồng. Rồi ông nối icom liên lạc với tàu kia. Thì ra giữa biển Đông bao la là vậy mà các tàu cá thân thiết nhau như… láng giềng. “Buôn có bạn, bán có phường” và ở ngoài biển khơi cũng thế. “Việc liên lạc các tàu quan trọng lắm. Chỉ cho nhau luồng cá, cảnh báo bão, ứng cứu hoạn nạn… trăm thứ. Riêng việc phát hiện luồng hải sản và báo cho nhau (mỗi tàu có một kiểu đánh bắt khác nhau nên phát hiện hải sản hợp tàu khác thì báo - PV). Nếu trúng luồng rồi cập bến nhập hàng, lời lãi được chia lại cho tàu báo 30% số cá luồng ấy. Nhất nhất theo khung bởi trên biển không giúp nhau thì thôi, ai lại ăn chặn nhau và họ luôn giữ mối quan hệ, tương trợ nhau giữa biển khơi vốn nhiều hiểm nguy này” – ông Sang chắc chắn thế.

Tạm chia tay biển Đông nhé! Tôi nhủ lòng và hứa sẽ quay trở lại để tìm nhiều cái hay và sâu hơn nữa. Chuyến đi là sự trải nghiệm nhiều cung bậc. Bởi ở đó, tôi đã sợ, đã thích thú đến mê mẩn, tôi đã mệt lừ với sóng bão và có cả sự hừng hực, hào hứng với trùng khơi… Tôi về, nằm nhừ cả tuần, nhưng với ngư dân là cuộc mưu sinh dài đằng đẵng trong vùng biển chủ quyền của Tổ quốc Việt Nam.      

Phóng sự của: TRẦN NGUYÊN PHONG


Ý kiến của bạn