Như nhiều đứa trẻ người Hà Nhì ở Sín Thầu, Mường Nhé, Điện Biên sinh ra, Sùng Pì Sinh được thừa hưởng sức vóc mạnh mẽ của núi rừng. 17 tuổi, lưng Pì Sinh đã như thân gỗ nghiến đại thụ, đôi mắt nhìn thấu rừng già, cặp bắp tay như bắp chuối, hai bàn chân chai sạn chẳng có loại giày dép nào đi vừa, có thể chạy băng băng vào những cánh rừng kin kít gai hạt dẻ, leo núi còn giỏi hơn cả những con sơn dương khỏe nhất.
Tay không bắt sống gấu
Trưởng bản Tả Kho Khừ, Xu Pó Lòng sinh năm 1975, đưa tay chỉ lên dãy Chan Sín Chải xa xa nói với tôi: "Cứ theo hướng này đi khoảng 2 tiếng là lên được núi Trâu của ông Gấu". Tôi bặm môi cất những bước ngược ngàn, chui vào những cánh rừng già dây quấn chằng chịt, xuyên qua những rãnh mòn nhão nhoét. Xu Pó Lòng an ủi:"Cứ men theo vết chân trâu qua mấy hàng rào lên núi tìm ông Gấu thì không sợ lạc". Mặt trời đứng bóng, căn nhà tranh nhỏ đã hiện ra. Hai con chó trắng to như hai con bê sủa lên từng hồi báo hiệu cho chủ có khách lạ. Một người đàn ông cao lớn, vạm vỡ khom lưng bước ra. Mắt tôi chạm phải một cái nhìn nhanh và sắc hiếm có với một người đã 55 tuổi. Nhận ra trưởng bản đi cùng tôi ông cười khà khà cất lời sang sảng: "Pó Lòng lên tiêm phòng trâu bò hả? Dưới bản có gì mới không?". Gió núi thổi phần phật, Sùng Pì Sinh nhớ lại cái tuổi bẻ gẫy sừng trâu của mình, cả vùng ngã ba biên giới từ Tả Ló San, Sen Thượng, Kho Pá, Kố Khừ đến A Pa Chải ai cũng bái phục biệt tài thiện xạ bách phát bách trúng của Sinh. Nhà có khách, ông xách súng vào rừng, khách chưa kịp uống hết ấm trà, chảo nước trên bếp vừa sôi đã thấy ông cắp con nai, con hoẵng về làm món Nậm Pịa, rồi uống rượu với nhau tới thâu đêm, nếu hết thịt Pì Sinh lại vào rừng lấy tiếp. Hồi đó rừng Sín Thầu vẫn nguyên sinh, kẹp xít với những vùng cỏ tranh ven suối Mo Phí, Nậm Ma, Chan Sín Chải, thú nhiều vô kể: hươu, hoẵng từng bầy nhởn nhơ gặm cỏ, khỉ hàng đàn bâu kín trong rừng quả chín, voi thỉnh thoảng lại vượt rừng đi lững thững khắp các đường mòn. Mùa đi tìm mỏ muối, từng đoàn thú rồng rắn giống như các tín đồ hành hương tìm về đất thánh. Hồi đó hổ rất nhiều. Pì Sinh 17 tuổi, cũng là lúc lũ hổ kéo về Tả Kho Khừ bắt bò, bắt người làm cho bà con lên nương phải đi cả đoàn, tối chẳng ai dám ra khỏi cửa. Pì Sinh lĩnh nhiệm vụ tiễu hổ bảo vệ dân bản, trong một lần giáp mặt, ông đã bắt con hổ đền tội, được bà con Hà Nhì ghi vào kỷ lục người trẻ nhất hạ thủ chúa sơn lâm. Khi phỉ quấy phá vùng ngã ba biên giới Việt -Trung- Lào này, Sùng Pì Sinh tham gia dân quân xã. Một lần đụng phỉ, 2 anh bộ đội đi cùng bị thương, ông đã chặt dây rừng đan thành đôi quang, bẻ cây làm đòn, gánh mỗi anh một bên chạy một mạch hơn 10km từ biên giới Việt- Lào về Sín Thầu cấp cứu. Trong một lần đi thăm lúa, vừa nhô lên khỏi con dốc, Pì Sinh đã đụng phải một con gấu ngựa kềnh càng đứng án ngữ giữa đường. Nó gầm lên một tiếng, giơ cánh tay lông lá xồm xoàm tát ông. Nhanh như cắt, ông chuyển người tránh cú đòn chí mạng, nhưng cánh tay trái vẫn dính những vuốt cào sâu hoắm. Kệ máu chảy, vận hết sức bình sinh, ông giáng vào mặt con gấu dữ những đòn đấm thôi sơn. Bị dính một loạt đòn, con gấu đổ gục giống võ sĩ bị đo ván, lăn tròn một vòng xuống chân dốc. Ông Sinh nhào theo lấy dây rừng trói gập cánh khuỷu, bó mồm buộc chân kẻ bại trận lại, gùi chiến lợi phẩm về vứt uỵch ở đầu nhà. Con gấu vẫn thở phì phò, nó to đến mức phải 4 thanh niên lực điền mới khênh được đi hóa kiếp. Từ đó chẳng ai bảo ai cả bản Tả Kho Khừ, cả xã Sín Thầu cứ gọi Sùng Pì Sinh là ông Gấu.
Trên đỉnh núi Trâu
Câu chuyện về rừng già và những lần hạ thú còn dài mãi nếu tôi không ngỏ ý xem đàn trâu, bò của ông. Nhấp ngụm nước chè ông nói "đợi tao tí để đi gọi chúng nó về". Thoắt cái đã thấy dáng ông cứ loang loáng sau vạt cây rừng tít trên đỉnh núi. Những tràng dài âm thanh phát ra "hu lá, hu lá... quà. quà. quà" ù ầm như tiếng sấm. Anh Xu Pó Lòng phiên dịch lại cho tôi "ông Gấu đang bảo trâu, bò về nhà ăn muối đấy". Tiếng ông vang tới đâu thì từng đàn bò mẹ, nghé con rẽ mây hiện ra. Bức tranh được dệt bằng trâu, bò cứ đỏ đồi, đen núi tụ lại đậm dần. Lũ súc vật đã xếp thành hàng ngũ trước nhà. Ông đi vào trong nhà bưng một rá muối vãi ra, những hạt muối trắng tinh phết trên những phiến đá lấp loá dưới ánh nắng. Lũ trâu, bò thè những cái lưỡi dài thành thục như người cầm đũa đưa cơm loáng cái đã sạch bách. Nhiều con còn dụi vào người ông tìm vị mặn dính trên tay, đúng là tôi chưa thấy cảnh người và trâu, bò ở đâu thân thiết đến vậy! Xoa đôi tay cho sạch, mở chai rượu vừa được tiếp tế, bà Cháo Chừ Pứ, vợ ông đã kịp thịt con gà trống to nhất đàn đặt giữa mâm. Nhấp chén rượu với tôi, ông bắt đầu kể về việc "biến núi trọc thành núi trâu” của mình. Trước kia, người Hà Nhì có tập quán thả trâu, bò hoang do vậy chúng dễ hư không bảo được, đến vụ cũng không bắt được về cày, tuy tiếc của nhưng chỉ biết dùng súng hủy nó đi kiếm mấy bữa thịt. Hơn 10 năm trước, sau nhiều lần thị sát, ông đã vác tre lên dãy Chan Sín Chải khoanh liền 6 quả núi lại, đưa 9 con trâu và 14 con bò lên nuôi cho ăn muối hàng ngày. Lúc đó nhiều người cười cho rằng ông ỷ vào sức khỏe mà đối chọi với rừng già và lũ vật bất trị rồi thế nào cũng thất bại. Rồi trâu, bò nhà ông ngày càng căng da, sòn sòn sinh nở. Năm 2002, ông mua thêm 28 con bò, bây giờ đàn trâu bò của ông đã lên tới 170 con trong đó có 60 con trâu. Mỗi năm tăng thêm trung bình 40 con nữa, vì toàn trâu, bò nái. Ông hiểu chúng đến mức nằm ở đàn cũng biết cả lũ đang gặm cỏ ở đâu, uống nước khe nào, con đầu đàn hôm nay có đưa cả nhà đi tắm không. Tôi hỏi sao ông biết được, ông khà khà nói: "Lão ở với trâu bò còn nhiều hơn là ở cùng 5 đứa con mình. Trên núi, lúc vợ đi trồng sắn, gieo lúa là tôi lại đi nói chuyện với trâu, bò”. Nhiều khi mưa gió, hai vợ chồng hết gạo nhưng chưa lần nào để trâu, bò thiếu muối, mỗi năm ông cõng lên núi 7 tạ muối cho chúng "ngự thiện" chống rét. Mùa đông, ông đi xoa từng chân những con non tránh "cước" chân khỏi bị ngã núi, dạy làm sao để chúng khỏi "bậy" ở chỗ ngủ dễ phát sinh bệnh tật và ô nhiễm nơi mình sống. Đúng thật, 170 con gia súc, mà tôi tịnh không thấy một bãi phân, nước tiểu nào quanh nhà. Rồi còn phải ngăn bọn bất lương từ bên kia biên giới sang đặt bẫy, dắt trộm. Năm ngoái ông tiếc đứt ruột vì mất 4 con trâu mộng.
Nhìn những con vật tròn lẳn ông Gấu vẫn buồn vì trâu, bò vùng này rẻ quá. Hiện giá bò đực to 3,8 triệu đồng/con, trâu đực 9 triệu đồng/con, chỉ bằng một nửa ở dưới xuôi. Học tập ông, bây giờ xã Sín Thầu đã có rất nhiều núi trâu, bò. Số hộ có trên 100 con cũng đã khó kể hết như: Sừng Sừng Khai, Pờ Dần Sinh, Hồ Lí Phù, Xu Lé Hừ... Nếu có đường tốt, trâu bò ở vùng này thành thương hiệu, bán đi các nơi, xuất khẩu đi cả nước ngoài để mọi người biết hơn về vùng ngã ba biên giới này, chắc hẳn ông Gấu và nhiều người sẽ còn vui hơn nữa.
Phóng sự của Nguyễn Gia Tưởng