Sáng kiến tổ chức VCVYE có từ năm 2002, đến nay đã có đến đoàn thứ tư. Đoàn này ở một làng Dao tại Hòa Bình, lần trước ở làng Mường. 3 tháng, thời gian tuy ngắn nhưng các em đoàn Canada cũng đã có dịp làm bạn với người Kinh và người Dao, tìm hiểu hai dân tộc này. Người Dao còn sinh sống ở cả Trung Quốc (đông nhất), Lào, Thái Lan, Myanma. Ở Việt Nam có hơn 700.000 người, họ cư trú khắp các tỉnh biên giới phía Bắc (từ Quảng Ninh đến tận Nghệ An) và một số tỉnh trung du (Thái Nguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Hòa Bình). Ở Hòa Bình, người Dao chỉ chiếm gần 2% dân số (người Mường khoảng 70%, người Kinh hơn 20%). Người Dao thuộc ngữ hệ Mông - Dao (tức Mèo - Dao). Trước người Kinh gọi người Mông (Miêu) là Mèo, người Dao là Mán. Người Dao thường cư trú ở lưng chừng núi, nhưng cũng ở đỉnh (như người Mông) hay ở chân núi (như người Kinh). Do đó có sự đa dạng về trồng trọt (ngô ở đỉnh cao, lúa ở sườn và chân núi). Nhà ở có 3 loại: nhà sàn ở vùng thấp, nhà nửa sàn nửa đất ở vùng giữa và nhà đất ở vùng cao, vừa du cư vừa định cư. Người Dao gốc ở nước Sở (Trung Hoa, giáp sông Trường Giang, đất tổ là Dương Châu). Từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 20, người Dao di cư dần xuống Đông Nam Á.
Ông tổ huyền thoại người Dao là Bàn Vương (Bàn Hồ). Tương truyền Bàn Hồ dài 3 thước, lông đen vằn vàng, từ trời giáng xuống, được vua Bình Hoàng nuôi. Cao Vương gây chiến, Bàn Hồ lập mưu bơi 8 đêm đến cung Cao Vương, được ông nuôi. Một hôm, lừa lúc Cao Vương say rượu, Bàn Hồ cắn chết, mang đầu lâu về và được Bình Hoàng gả con gái cho làm vợ, rồi cho làm vua ở Cối Kê. Vợ chồng sinh được 6 trai, 6 gái, lập ra 12 họ người Dao, đứng đầu là họ Bàn.
Đến vùng người Dao, người nước ngoài thường thích tìm hiểu đời sống tâm linh. Dân gian tin là mọi vật đều có linh hồn, có ma quỷ, cần cúng lễ. Thế giới có 3 tầng: Trời là nơi ở của Thần và người Khổng lồ, mặt đất thì của người và các sinh vật, dưới đất và nước là nơi ở của những người lùn. Linh hồn người chết về quê gốc ở Dương Châu (Trung Quốc) nhưng vẫn đi lại thăm nom con cháu. Bàn thờ tổ tiên cúng cả thủy tổ Bàn Vương. Người Dao chịu ảnh hưởng sâu đậm của Tam giáo (Khổng, Phật, Lão) và dùng chữ Nho (từ đó tạo chữ nôm Dao). Ảnh hưởng Đạo giáo rất mạnh trong các nghi lễ và tập quán, thể hiện trong những tranh thờ. Thí dụ tranh Tam Thanh cung (3 cung của thần linh cõi Thanh hư và Thanh khiết. Ba vị thiên tôn tượng trưng cho Thái Cực và Âm Dương ở hai bên.
Lễ cấp sắc rất quan trọng cho nam giới Dao từ 12 - 16 tuổi trở lên. Lễ này đặt pháp danh để dùng khi cúng bái, công nhận cho mình là huyết thống Bàn Vương và sức sống của Đạo giáo. Thầy cúng cấp cho người thụ lễ một bản sắc bằng chữ Nôm với nội dung về lai lịch và các điều khuyên răn.
Từ đó, người thụ lễ được coi là thực sự trưởng thành. Chưa được cấp sắc là chưa được tôn trọng. Bản sắc cũng coi là lá bùa trừ tà.
Theo nhân học, lễ cấp sắc thuộc loại lễ phổ biến trong các nền văn hóa nhằm chuyển người thụ lễ từ một loại quy chế tôn giáo hoặc xã hội này sang loại cao hơn, tiếng Anh là Initiation Rituals (nghi lễ quá độ). Ta thường dùng chữ thụ pháp, nhập môn, nhập hội. Lễ cấp sắc người Dao chịu ảnh hưởng Tam giáo, nhất là Đạo giáo. Ở ta, làng chia thành phe giáp để phụ trách việc tế lễ trong làng và giúp các gia đình trong việc sinh con, hiếu hỉ…
Lễ nhập tịch giáp gần như cấp sắc. Giáp là một tổ chức dân chủ, thứ vị trên dưới theo tuổi, không theo chức vị.
hữu ngọc