Mức trần học phí chưa tính đủ chi phí đào tạo thực tế khối ngành sức khỏe

Y tế
SKĐS - Khảo sát của Bộ GD&ĐT cho thấy mức trần học phí hiện hành chưa bù đắp chi phí đào tạo thực tế khối ngành sức khỏe.

Chênh lệch giữa quy định và chi phí đào tạo thực tế

Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện Nghị định số 238/2025/NĐ-CP của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho thấy, thực tiễn triển khai cơ chế tài chính đã bước đầu tạo lập sự phân hóa về mặt bằng học phí. Tuy nhiên, kết quả khảo sát trên 988 chương trình đào tạo đại học cho thấy 586 chương trình (chiếm 59,3%) có mức học phí tính đủ chi phí đào tạo cao hơn mức trần quy định. Trong đó, 270 chương trình cần mức học phí cao hơn ít nhất 1,5 lần mức trần và 127 chương trình cần mức học phí cao hơn từ 2 lần mức trần trở lên.

Trong toàn hệ thống giáo dục đại học, khối ngành sức khỏe (mã ngành 6.1 và 6.2) là nhóm có chi phí đào tạo và mức vượt trần cao nhất. Nguyên nhân xuất phát từ những đặc thù đòi hỏi khắt khe về chuyên môn, cơ sở thực hành lâm sàng tại các bệnh viện, trang thiết bị chuyên môn, vật tư tiêu hao và đội ngũ giảng viên có trình độ chuyên sâu.

Mức trần học phí chưa tính đủ chi phí đào tạo thực tế khối ngành sức khỏe- Ảnh 1.

Mức trần học phí chưa tính đủ chi phí đào tạo thực tế khối ngành sức khỏe- Ảnh 2.

Trích trong Báo cáo tình hình thực hiện Nghị định số 238/2025/NĐ-CP của Bộ GD&ĐT.

Thực trạng thu - chi tại các nhóm cơ sở đào tạo

Sự chênh lệch giữa học phí và chi phí đào tạo có sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm cơ sở tự chủ tài chính. Tại nhóm cơ sở đã tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư (Mức 1) hoặc tự bảo đảm chi thường xuyên (Mức 2), học phí hiện hành tương đương khoảng 49% - 85% mức trần, đã đáp ứng khoảng 92% - 100% chi phí đào tạo thực tế. 

Tại Trường Đại học Y Hà Nội (đơn vị thuộc Mức 2), các ngành thuộc nhóm ngành sức khỏe đã kiểm định (Răng Hàm Mặt, Khúc xạ nhãn khoa, Kỹ thuật xét nghiệm y học) có mức thu học phí thực tế từ 79,5 - 82,2 triệu đồng/năm, đạt tỷ lệ trung bình so với mức trần từ 77,9% đến 92,3%.

Mức trần học phí chưa tính đủ chi phí đào tạo thực tế khối ngành sức khỏe- Ảnh 3.

Mức trần học phí chưa tính đủ chi phí đào tạo thực tế khối ngành sức khỏe- Ảnh 4.

Ngược lại, tại nhóm cơ sở chưa tự bảo đảm chi thường xuyên (Mức 3, Mức 4), khoảng cách giữa học phí và chi phí đào tạo thực tế vẫn còn tương đối lớn. Mức thu học phí chỉ đáp ứng được 68,6% (đối với mã ngành 6.2 - Sức khỏe 2) đến 70,8% (đối với mã ngành 6.1 - Sức khỏe 1) chi phí đào tạo thực tế. Tỷ lệ chi phí đào tạo thực tế so với mức trần quy định tại nhóm này lên tới 202,3% (mã 6.2) và 214,3% (mã 6.1).

Số liệu từ báo cáo khảo sát cụ thể tại Trường Đại học Y Dược - Đại học Huế đối với ngành Răng - Hàm - Mặt (khóa 2024 - 2030) cho thấy, chi phí đào tạo bình quân là 60,1 triệu đồng/sinh viên/năm, học phí thu thực tế đạt 47,2 triệu đồng/năm. Tỷ lệ thu học phí đáp ứng 72,73% chi phí đào tạo, trong khi chi phí đào tạo thực tế bằng 275% mức trần quy định.

Cần hoàn thiện cơ chế xác định học phí

Kết quả phân tích cho thấy các chương trình có mức học phí tính đủ chi phí đào tạo vượt trần tập trung chủ yếu ở các ngành thuộc khối sức khỏe như Y khoa, Răng - Hàm - Mặt, Điều dưỡng và Kỹ thuật y học. 

Theo số liệu báo cáo khảo sát. tại Trường Đại học Y Hà Nội, ngành Y khoa và Răng - Hàm - Mặt (mã 6.1) có mức trần quy định là 47,2 triệu đồng/năm, mức học phí hiện hành và chi phí đào tạo thực tế là 82,2 triệu đồng/năm; mức học phí tính đủ chi phí đào tạo là 191 triệu đồng/sinh viên/năm (tương đương 404,7% mức trần). 

Tại Trường Đại học Y Dược - Đại học Huế, các ngành Điều dưỡng, Kỹ thuật xét nghiệm, Kỹ thuật hình ảnh liên thông (mã 6.1) có mức trần 23,6 triệu đồng/năm, mức thu hiện hành 64,5 triệu đồng/năm, chi phí đào tạo thực tế và mức tính đủ là 73,65 triệu đồng/sinh viên/năm (tương đương 312,1% mức trần).

Mức trần học phí chưa tính đủ chi phí đào tạo thực tế khối ngành sức khỏe- Ảnh 5.

Kết quả khảo sát cho thấy khoảng cách giữa chi phí đào tạo thực tế và mức trần học phí hiện hành là tương đối lớn đối với nhiều chương trình đào tạo trong hệ thống giáo dục đại học. Tình trạng này không chỉ xuất hiện ở các ngành đặc thù như sức khỏe, nghệ thuật mà còn phổ biến ở nhiều ngành kỹ thuật, công nghệ và khoa học ứng dụng.

Đáng chú ý, phần lớn các chương trình có mức học phí tính đủ chi phí đào tạo vượt trần lại tập trung tại các cơ sở giáo dục đại học chưa tự bảo đảm chi thường xuyên. Điều này phản ánh khả năng tạo nguồn thu từ học phí của nhóm trường này còn hạn chế, trong khi nhu cầu bảo đảm chất lượng đào tạo và đầu tư phát triển ngày càng tăng.

Nhìn chung, cơ chế học phí hiện hành đã góp phần kiểm soát chi phí học tập của người học, bảo đảm khả năng tiếp cận giáo dục đại học. Tuy nhiên, đối với các nhóm ngành có chi phí đào tạo cao hoặc các chương trình được đầu tư nâng cao chất lượng, mức trần học phí hiện nay chưa phản ánh đầy đủ chi phí thực tế. Đây là cơ sở quan trọng để tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện chính sách học phí trong thời gian tới theo hướng gắn với định mức kinh tế - kỹ thuật, chi phí đào tạo thực tế và mức độ tự chủ của từng cơ sở giáo dục đại học.

Mức trần học phí chưa tính đủ chi phí đào tạo thực tế khối ngành sức khỏe- Ảnh 6.Khối ngành Sức khỏe trước áp lực chi phí đào tạo thực tế vượt trần học phí

SKĐS - Báo cáo của Bộ GD&ĐT ghi nhận mức học phí khối ngành Sức khỏe thuộc nhóm cao nhất, phản ánh chi phí đào tạo thực tế rất lớn.


Ý kiến của bạn