Một tấm lòng tri ân cùng Thăng Long - Hà Nội*

Văn hóa – Giải trí
Có thể nói Nguyễn Vinh Phúc là một trong số những người có nhiều công trình nhất sưu tầm, biên soạn và nghiên cứu về Thăng Long - Hà Nội.

Có thể nói Nguyễn Vinh Phúc là một trong số những người có nhiều công trình nhất sưu tầm, biên soạn và nghiên cứu về Thăng Long - Hà Nội. Có được điều đó, trước hết xuất phát từ tình yêu đối với thủ đô 1000 năm văn hiến cùng với quá trình lao động chuyên cần và sáng tạo. Tình yêu và công lao đóng góp của ông đã được nhiều người gọi bằng một cái tên rất trân trọng: Nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc.

Từ năm 1962 đến 2010, thời điểm cả nước kỷ niệm Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, ông đã cho xuất bản hơn 20 công trình chuyên khảo cứu về Hà Nội. “Hà Nội - phong tục, văn chương” là công trình thứ 21 vừa được NXB Trẻ phát hành vào tháng 3/2010, dày 416 trang. Cùng với nhiều cuốn đã xuất bản trước đây, Nguyễn Vinh Phúc đã cung cấp cho người đọc trong và ngoài nước một cái nhìn vừa tổng quát, vừa cụ thể, chi tiết về Hà Nội trong dòng chảy lịch sử hàng ngàn năm.

Với 6 chuyên luận về những phong tục truyền thống của Hà Nội, trong đó có những phong tục của người Hà Nội như đi lễ Rằm tháng Giêng, Tết Đoan Ngọ, tục thờ ngựa, thờ trâu, thờ đá, tục chơi quất, chơi đào ngày Tết, rất quen thuộc nhưng không phải ai cũng biết hết về cội nguồn của những phong tục ấy. Bằng nguồn tài liệu phong phú và sự hiểu biết thấu đáo về chúng, Nguyễn Vinh Phúc đã lý giải đến tận căn nguyên, nguồn gốc với những phân tích thú vị, dẫn chứng rõ ràng, giúp người đọc hiểu biết sâu hơn những gì mà mình đã biết, đang làm, đặng góp phần gìn giữ những tinh hoa trong văn hóa ứng xử của người Hà Nội, đồng thời loại bỏ những gì nhiêu khê, lạc hậu, không phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc cũng như cuộc sống đương đại. Sẽ có nhiều người thích thú với những ghi chép của người phương Tây về cuộc sống xưa ở đất Kẻ Chợ - Thăng Long thế kỷ XVII. Những nghiên cứu về đình “Nhà trò” và tổ nghề hát ca trù ở kinh đô Thăng Long xưa được coi là phát hiện mới, đóng góp riêng của ông trong công trình này. Nó đã minh chứng cho một phong tục cổ truyền, một nét đẹp văn hóa trong đời sống tinh thần của người và đất kinh kỳ Thăng Long có hàng nghìn năm tuổi.

Tam tiểu luận chuyên khảo về văn chương Thăng Long xưa với những bài thơ phú cách đây 5 - 6 thế kỷ. Lấp ló sau mỗi áng văn chương đó là những bậc hiền tài kiêm thi sĩ như bốn vị vua triều Trần từ Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông đến Trần Anh Tông. Họ là những người đứng mũi chịu sào xung trận khi đất nước có ngoại xâm, là những người gánh trên vai trọng trách lớn lao nhất trong công cuộc dựng xây đất nước, nhưng đồng thời cũng là những thi nhân khi đất nước thanh bình. Với họ, đánh giặc, quản lý đất nước và làm thơ là những thứ không thể thiếu, đặng mong góp phần làm cho đất nước yên bình, nhân dân no ấm.

Còn với Nguyễn Du, một danh nhân văn hóa thế giới lại luôn đau đáu trong mình nỗi niềm trăn trở về con người Thăng Long, nhất là thân phận người phụ nữ vốn chịu nhiều thiệt thòi trong khi đất nước loạn ly, cũng như những quan niệm hà khắc của lễ giáo phong kiến, biến họ thành những nạn nhân vô tội.

Đầu thế kỷ XX, Hà Nội là nơi xảy ra sự tiếp biến văn hóa mãnh liệt nhất trong cả nước, giữa hai nền văn hóa Đông - Tây. Những phân tích và lý giải của Nguyễn Vinh Phúc có nhiều ý mới và sâu, giúp người đọc có thêm một cái nhìn toàn diện và sâu hơn về quá trình tiếp biến văn hóa diễn ra trong giai đoạn này ở một nơi được coi là trung tâm chính trị và văn hóa của cả nước, thủ đô Hà Nội.

Đặc biệt Hồ Tây xưa, với vẻ đẹp được thiên nhiên ban tặng, là điểm hẹn thú vị cho các hoạt động văn chương của kinh thành Thăng Long xưa. Từ triều đại nhà Trần cho đến những năm đầu thế kỷ XX, Hồ Tây đã trở thành tụ điểm nổi bật nhất trong hoạt động văn chương của các vị vua chúa và quan lại trước đây, tạo nên một phong cách độc đáo của dòng văn chương quan phương mang địa danh Hồ Tây.

Có thể nói lần đầu tiên, “La Thành cổ tích vịnh” gồm 25 phần của ông nghè Trần Bá Lãm đã được dịch toàn bộ và được Nguyễn Vinh Phúc giới thiệu đến đông đảo công chúng. Đây là nguồn tư liệu vô cùng quý hiếm không chỉ về tác phẩm “La Thành cổ tích vịnh” mà còn về bản thân tác giả của nó.

“La Thành cổ tích vịnh” ghi lại cảm xúc về đền, chùa, núi non, hồ đầm của ông nghè đất Thăng Long Trần Bá Lãm. Theo tác giả thì 25 bài thơ ông viết ra nhân chuyến ông lên kinh thành Thăng Long để thực thi công vụ. Đây là thời điểm loạn ly của triều chính, “năm vua, bảy chúa” nên tâm sự chính của ông nghè Trần Bá Lãm là hoài cổ, nhớ về một kinh thành Thăng Long xưa oai hùng mà hào hoa, phong nhã. Thế nhưng sau gần hai thế kỷ, nguồn tài liệu quý hiếm này mới được nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc sưu tầm, biên soạn và cho công bố. Dù muộn, nhưng vẫn còn hơn chẳng bao giờ. Chúng ta cần ghi nhận công lao đóng góp của tác giả công trình “Hà Nội - phong tục, văn chương”, âu đấy cũng là tấm lòng tri ân với Thăng Long - Hà Nội của Nguyễn Vinh Phúc, rất xứng đáng với giải thưởng Bùi Xuân Phái mà ông mới được nhận vào năm 2009.

* “Hà Nội- Phong tục, văn chương” của Nguyễn Vinh Phúc, NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 2010.

Đỗ Ngọc Yên


Ý kiến của bạn