Một nữ tu sĩ Pháp gắn bó với Việt Nam

Văn hóa – Giải trí
Bà sơ Francoise Vandermeesch đã qua đời, để lại cho bạn bè Việt Nam nhiều thuơng tiếc. Bà là một nữ tu sĩ Pháp, là nhà báo, không xa lạ gì với nhiều tổ chức nhân dân và các hội từ thiện Việt Nam.

Bà sơ Francoise Vandermeesch đã qua đời, để lại cho bạn bè Việt Nam nhiều thuơng tiếc. Bà là một nữ tu sĩ Pháp, là nhà báo, không xa lạ gì với nhiều tổ chức nhân dân và các hội từ thiện Việt Nam. Bà không hay mặc y phục tu hành nên nếu không biết trước thì không biết bà là tu sĩ. Phong cách thanh cao, dáng điệu và nét mặt rất quý phái, bà thuộc một gia đình thượng lưu có văn hoá. Bà đã nhiều lần qua Việt Nam về vấn đề viện trợ. Bà đặc biệt giúp đỡ những sinh viên Việt Nam sang Pháp học.

Những năm 80, tôi có hỏi bà: “Con đường nào dẫn bà đến với Việt Nam?”. Bức thư trả lời sau đây của bà khá điển hình cho một số người Pháp đã đứng tuổi đã và đang bắc nhịp cầu văn hoá hữu nghị Pháp-Việt:

Bác Hữu Ngọc thân mến,

“… Tôi biết đến Việt Nam lần đầu khi cha mẹ tôi dẫn tôi đi Paris vào năm 1931 để xem triển lãm thuộc địa. Ngày nay, tôi chỉ còn giữ lại những kỷ niệm rất lơ mơ, cảm tưởng về một miền viễn Đông gọi là “Pháp quốc hải ngoại” xôn xao màu sắc, xa lạ, khác hẳn xứ Flandre quê tôi; Người Pháp chúng tôi đã tự cho là mình mang văn minh đến “khai hoá” miền đất ấy.

Mười lăm năm sau đó, nước Việt Nam lại xuất hiện trong ý thức của tôi. Một người trong gia đình tôi lấy một phụ nữ Việt, được cử đi nhận việc ở Sài Gòn rồi sau ra ở Hà Nội. Tôi chuyển từ những hình ảnh và màu sắc năm 1931 sang sự khám phá một nền văn hoá xa lạ mà tôi chưa giải mã được. Rồi đến chiến tranh Việt - Pháp, chiến tranh Việt - Mỹ, Việt Nam nổi lên tinh thần anh dũng của một dân tộc đứng lên bảo vệ đất nước của mình. Là tổng biên tập một tờ tạp chí, tôi dành nhiều hồ sơ cho vấn đề hòa bình ở Việt Nam, ủng hộ quyền các dân tộc được tự do định đoạt số phận  mình, cùng cả thế giới lên án chiến tranh ở Việt Nam.

Năm 1970, tôi đi Mỹ. Tôi đến Trường Đại học Stanfordl dự một hội nghị. Sau khi các sinh viên Mỹ đốt cả một tòa nhà của trường đại học, họ biểu tình chống chiến tranh ở Việt Nam. Sự phẫn nộ lan nhanh từ trường đại học này sang trường khác.

Ở Chicago, tôi gặp những cựu chiến binh Mỹ tuyển trong các tầng lớp bình dân. Tôi hết sức ngạc nhiên nghe họ kể: “Người Mỹ phải đến Việt Nam để mang cho họ những thứ họ thiếu… Chúng tôi mang cho họ máy vô tuyến, tủ lạnh, kem… lạ thật!”. Năm 1973, mặc dầu Hiệp định Paris đã ký, chiến tranh vẫn dữ dội. Hội Hòa bình của Chúa, một tổ chức lớn hoạt động vì hoà bình quyết định tổ chức một đại hội quốc tế ở Turin – Ý . Để chuẩn bị đại hội, một số điều tra viên được cử đi Việt Nam. Tháng chín, tôi đến Sài Gòn và được Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình, nam nữ tu sĩ cùng các sinh viên, công nhân trẻ Việt Nam tiếp đón. Những người Kitô giáo ấy đều muốn độc lập dân tộc và nhiều người bí mật ủng hộ kháng chiến.

Ở Sài Gòn cũng như ở Vũng Tàu, ở Đà Lạt và ở một bản làng trên núi, ở Huế cũng như ở thành Quảng Trị đổ nát, tôi đi cùng một phiên dịch là sinh viên thâm nhập trong đám dân chúng chạy bom. Tôi đi thăm một số  chính trị phạm bị quản thúc. Tôi về Sài Gòn, qua đèo Hải Vân, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quy Nhơn trong một chiếc xe ca chở khách nhiều khi bị chặn      lại vì có bom ném, bị công an của Thiệu theo sát…

Tôi là người Pháp, tôi thấy trách nhiệm của nước tôi về xứ sở đã từng là thuộc địa. Và tôi, một nữ tu sĩ Kitô giáo, tôi thông cảm sâu sắc với đức tin vững chắc và nồng nhiệt của những người Ki tô giáo Việt Nam… Đến cuối tháng chín, tôi rời Việt Nam nhưng để lại đó trái tim của tôi.

Tháng 4/1975, tôi trở lại Việt Nam, nhưng lần này đến Hà Nội vài ngày trước khi Sài Gòn giải phóng. Tôi mang theo 30 tấn sữa, thuốc men, lương thực cho trẻ em các vùng Trung Bộ mới được tự do, những vùng mà tôi đã đến thăm năm 1973.

Hà Nội, thành phố dũng cảm do cái nghèo, một cái nghèo khó tưởng tượng ngự trị, nhưng vẫn là một xã hội có đạo đức. Ở nơi đây, hình như của cải vật chất không quan trọng mấy đối với giá trị con người, lòng can đảm, tình đoàn kết, sự dửng dưng đối với tất cả những gì không thuộc về di sản văn hoá và độc lập dân tộc. Có người nhận xét với một nhà khoa học Việt tên tuổi rằng quần áo ông hết sức sạch sẽ, chỉnh tề nhưng quá ư sờn. Ông chỉ đáp: “Nhưng tôi tự hào về cái nghèo của tôi!”.

Tôi không viết nhiều về những quan hệ tiếp xúc của tôi với nhân dân Việt Nam. Tôi có may mắn hiểu biết đôi chút tâm hồn dân tộc này, được hưởng một tình hữu nghị sâu sắc vuợt ra khỏi giá trị ngôn từ, sự quyến luyến vượt qua mọi thử thách!

Sau những chuyến đi ở miền Nam, miền Trung, miền Bắc, vị đại sứ Việt Nam tại Pháp gặp tôi, đã mời tôi tiếp tục công việc của mình. Tôi nhận đề nghị ấy không cần suy nghĩ, vì lòng chung thủy là một đặc điểm của người quê vùng Flandre như tôi, vả chăng người Pháp chúng tôi phải chịu trách nhiệm về những thập kỷ đi thực dân các nước Đông Nam Á… Tôi xin cảm ơn Việt Nam đã mang lại cho tôi từ 18 năm qua biết bao tình cảm, văn hoá và triết lý”. 

Hữu Ngọc


Ý kiến của bạn