Một “Mùa xuân New York”?

Quốc tế
Từ một phong trào không được tổ chức bùng phát tại New York, trái tim của nền tài chính Mỹ, các cuộc biểu tình “Chiếm phố Wall” đa lan ra toàn cầu để trở thành “ngày giận giữ”, “ngày chiếm đóng”. Thậm chí, có những người lãng mạn còn nói đến một thứ mùa xuân Arập ở nước Mỹ. Nhưng liệu “Occupy Wall Street” có trở thành một “Mùa xuân New York”?

Từ một phong trào không được tổ chức bùng phát tại New York, trái tim của nền tài chính Mỹ, các cuộc biểu tình “Chiếm phố Wall” đa lan ra toàn cầu để trở thành “ngày giận giữ”, “ngày chiếm đóng”. Thậm chí, có những người lãng mạn còn nói đến một thứ mùa xuân Arập ở nước Mỹ. Nhưng liệu “Occupy Wall Street” có trở thành một “Mùa xuân New York”?

Đúng là Chiếm phố Wall có nhiều điểm giống Mùa xuân Arập, nhất là giống những cuộc nổi dậy ở Tunisia hay Ai Cập. Cũng là những hành động có tính tự phát của quần chúng chống lại những bất công, những tệ đoan đã tồn tại quá lâu của thể chế. Chiếm phố Wall sau một tháng đã lan ra hơn 21 địa điểm trên khắp nước Mỹ bao gồm cả Washington, Boston, Chicago, Los Angeles và Miami. Không những thế, nó còn được xuất cảng ra nhiều quốc gia khác, ở những nơi mà chủ nghĩa tư bản đang ngự trị, từ London đến Tokyo, từ Lisbon, Rome đến Singapore (một quốc gia nổi tiếng nghiêm khắc về trật tự công cộng). Những tệ đoan của nền kinh tế Mỹ nói riêng và chủ nghĩa tư bản nói chung là điều đã được nhiều người là những nghệ sĩ thiên tả như Oliver Stone hay Micheal Moore nhận ra qua những bộ phim như Wall Street (1987), Wall Street: Money never sleeps (2010) hay Capitalism: A love Story (2009). Cả những người nghệ sĩ lẫn những người biểu tình đều nhận ra một điều khủng khiếp nhất của chủ nghĩa tư bản: sự bất công xã hội khi mà sự giàu có của kẻ này có thể được dựng xây trên đau khổ của nhiều người khác.
 
 Phố Wall - sự phản ứng lại cơ cấu kinh tế quá nuông chiều người giàu và bỏ quên thành phần lao động.
Không phải nói đâu xa, chính trong những nhà máy sản xuất ra những chiếc Iphone 4S thời thượng của Apple có những công nhân phải lao động đến kiệt sức và bế tắc đến mức phải tự vẫn khi tuổi đời chưa đến 30. Và không phải chỉ một người. Đó chính là điều đã châm ngòi cho phong trào chiếm phố Wall. Chỉ 1% người giàu thu nhập bằng 21% thu nhập của cả nước và bằng 35% sản phẩm quốc nội. Điều khủng khiếp hơn nữa là chính lòng tham vô độ của giới chủ tư bản và những kẻ buôn tiền đã dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, một cơn bão quét qua toàn cầu và để giải quyết hậu quả của cơn bão đó, Chính phủ Mỹ đã phải dùng đến những gói cứu trợ sử dụng thuế của dân và điều mỉa mai là trong khi các đại công ty, các ngân hàng đều đã được cứu thoát khỏi khủng hoảng thì đời sống người dân vẫn cứ “khốn khó đều”. Chỉ nói riêng ở Mỹ, theo số liệu lấy từ AP cho đến những thống kê gần nhất, thất nghiệp vẫn được “giữ đều” ở mức 9%, lương tính theo giờ giảm 3% và 45% người thất nghiệp đã ở trong cảnh thất nghiệp trên 6 tháng. Và trong số những người đang chiếm phố Wall, có những sinh viên 4, 5 năm sau khi ra trường không thể kiếm nổi việc làm. Những đạo luật có lợi cho đại bộ phận dân chúng như luật về Bảo hiểm y tế bắt buộc và luật về Chống thất nghiệp, khi được trình trước lưỡng viện đã gặp phải sự chống đối dữ dội đến mức thế nào từ phía phe đối lập đại diện cho giới chủ. Một điều nữa cũng cần phải nói là chính sách thuế khóa quá nhẹ nhàng đối với thu nhập của người giàu. Không phải vô lý khi mà chính tỷ phú Warren Buffet gần đây đã phải đưa ra một sáng kiến về thuế được mệnh danh là “thuế Buffet” với mục tiêu là cải cách tỉ suất thuế thu nhập để tránh tình trạng một tỷ phú như Buffet cũng chỉ trả một mức thuế dưới 20% và chỉ ngang bằng với nhiều nhân viên trong văn phòng của ông ta. Vậy, có thể nói thẳng ra rằng, chống phố Wall chính là một sự phản ứng lại cơ cấu kinh tế quá nuông chiều người giàu và bỏ quên thành phần lao động trung lưu.

Dẫu vậy cũng cần phải thấy rằng, Chiếm phố Wall dù được sự hậu thuẫn của các nghiệp đoàn, được sự cảm thông của Tổng thống Mỹ và nhiều chính trị gia thuộc Đảng Dân chủ nhưng cũng khó có thể trở thành một “Mùa xuân New York”. Chỉ nhìn vào phong trào ở hai bên bờ Đại Tây Dương là đủ thấy tình thế lưỡng nan của phong trào này. Nếu như ở Mỹ, vấn đề của nước Mỹ là sự bất bình đẳng và sự tham lam vô độ của các đại công ty thì ở châu Âu, vấn đề lớn nhất lại là nợ công, nói thẳng ra là ít nhiều liên quan đến các xã hội phúc lợi ở châu Âu. Chính sự thịnh vượng của nước Mỹ trong nhiều năm đã được xây dựng trên lòng tham của các chủ tư bản, của chính sách thuế khóa “nhẹ nhàng” với người giàu để khuyến khích họ tạo việc làm (hãy nhớ rằng nhiều người giàu đã từ Pháp sang Mỹ định cư để trốn gánh nặng thuế khóa). Đó chính là cái khó của chính những người chống phố Wall. Ai cũng hiểu rằng, chủ nghĩa tư bản tiềm ẩn sự bất bình đẳng nhưng quá nhiều người lại bị lệ thuộc vào chủ nghĩa tư bản và giới chủ bởi chính họ tạo ra tài sản xã hội và việc làm. Điều đó rất khác với ở Arập - nơi mà chế độ độc tài ăn cướp tài nguyên của dân và đơn giản, chỉ cần lật đổ những chế độ đó, lập nên một chế độ dân cử và chia lại tài sản xã hội là mọi sự sẽ dần tốt lên. Đó cũng là lý do khiến cho những người chống phố Wall không thể đưa ra được một yêu sách cụ thể nào ngoài những đòi hỏi cải cách rất chung chung.

Và thế thì chắc khắn, khó có thể có một “Mùa xuân New York”.
Phạm Xuân Thạch

Ý kiến của bạn