Hơn hai chục năm biết rượu, tôi đã từng được uống nhiều loại rượu, với nhiều loại người, ta có, tây có, vùng cao có, vùng biển có, rượu ngon có và rượu dở cũng có, uống cho say cũng có mà uống cho tỉnh cũng có.... Nhưng chắc chắn một điều, chén rượu uống với anh bạn Mường lạ hoắc nơi ngã ba Xưa trong phút giao thừa này sẽ là chén rượu có ý nghĩa hoàn toàn đặc biệt, bí hiểm, độc đáo, thành thật, chân tình...
Năm ấy Chạp thiếu. Tết sớm một ngày. Chỉ một ngày thôi nhưng bao nhiêu lo toan, tất bật dường như dồn cả vào đấy. Mấy năm trở lại đây, đời sống khấm khá, cái không khí rục rịch đón Tết không còn thấy như những năm xưa nữa. Mọi thứ đều sẵn, thành thử lâu rồi vắng bóng những chiếc xe tải chở lá dong ùn ùn kéo về từ giữa Chạp. Cảnh xếp hàng chen chúc bán bán mua mua cũng hết. Vườn đào, vườn quất trên Nhật Tân, Quảng Bá từng là nơi lưu giữ rõ nét nhất bóng dáng của Tết xưa giờ cũng đã khác. Các loại ôtô, xe máy, hay đơn giản nhất là cả một đội ngũ “xe ôm” chuyên nghiệp chở thuê đã làm vãn đi cái thư thái của những cành hoa đổ về thành phố trên những chiếc xe đạp thong dong thuở nào. Duy chỉ ánh mắt buồn hiu hắt của những người trồng hoa trong những trận gió mùa đông bắc lạc mùa chiều cuối năm là vẫn nguyên vẹn như xưa. Người thành phố mê mải với công việc cho đến tận ngày cuối cùng của năm mới đổ ào ra phố. Chỉ cần một buổi là đã có đủ một cái Tết tươm tất. Tiện lợi đấy mà cũng bâng khuâng lắm... Thôi thì bỏ lại sau lưng bao nhiêu tất tả, ồn ào; bỏ lại sau lưng một năm với những buồn - vui - được - mất, thêm một chút hoang vắng, thêm một chút dỗi hờn, tôi lên xe tìm đến xứ Mường...
Bâng khuâng về lại ngày xưa...
Quốc lộ 1A trưa 29 Tết tấp nập đến nhộn nhạo, ôtô, xe máy chở đầy màu sắc và hương vị Tết xuôi ngược như mắc cửi. Mỗi người một hướng, mỗi người một địa chỉ, một miền quê, nhưng tất cả đều chung một mục đích: Mau chóng về với gia đình; có lẽ chỉ riêng mình là kẻ ngược chiều. Ấy thế nhưng cứ xa xa vậy để mà ngắm nghía, mà thưởng thức cái nét xuân đang dần thắm trên những gương mặt hối hả. Trong những vệt khói mờ mờ, xa xa sau những luỹ tre xanh rì bình yên kia có lẽ cũng là một điều hạnh phúc hiếm hoi. Cũng chẳng cần phải đợi đến cái phút "Chiều dần đưa chân ngày" như khi xưa người thi sĩ tha hương một lần chợt gặp mà cất thành thơ, để thấy trong lòng dâng lên mênh mang một nỗi sầu vạn cổ, đẹp và bâng khuâng đến da diết. - "Chắc chú về quê ăn Tết?"- Bà chủ quán nước ven đường hồn nhiên khi tôi dừng chân. - "Vâng! Về quê!"...
Nho Quan là thị trấn huyện lỵ của huyện Hoàng Long - Ninh Bình. Cách đây gần hai chục năm, tôi đã có một thời gian dài gắn bó với vùng này. Từ ngã ba Gián Khẩu, theo con đường tỉnh lộ 447 chừng 20 km, khi xưa xe khách phải vật vã mất cả tiếng đồng hồ, thì nay dù có cố tình đi thật chậm để tận hưởng cái cảm giác run rẩy, hồi hộp đến ngộp thở của người đi xa trở lại, cũng chỉ già nửa giờ. Cảnh vật vừa thân quen, lại cũng vừa xa lạ quá. Con đường dẫn vào Vườn Quốc gia Cúc Phương này đã được nâng cấp sau ngày tôi rời xa nơi đây, nên giờ không còn nữa cái vẻ hút hắt khi uốn mình khuất vào sau những dãy núi đá vôi trùng điệp đến nghi hoặc như ngày nào. Những dãy phố ven đường dài cả chục cây số đã thay thế cho cảnh hoang vu đến lạnh người trong sắc màu sơn cước xưa kia mỗi khi chiều buông xuống. Ấy vậy mà vẫn rõ lắm cái hiền lành, chất phác và chân thật của mảnh đất Hoàng Long, Gia Viễn này trong từng nét mặt, từng dáng vẻ kiến trúc. Người dân ở đây từ lâu vẫn duy trì thói quen xây cất nhà theo khả năng, có đến đâu làm đến đó, hết năm này qua năm khác. Có những ngôi nhà xây rả rích trong vài năm, thoáng nhìn như bỏ dở, lại có những ngôi nhà vừa xây dựng vừa sử dụng, ai không quen dễ nhầm 3 thế hệ đang sinh sống trong đó với một kíp thợ nề xa quê buổi tất niên... Tất cả làm nên một không khí bình dị, yên ả đến mềm lòng. Cái lam lũ tuy không còn nữa; dọc theo con đường từ thị trấn Nho Quan lên các huyện phía Nam của tỉnh Hoà Bình không còn thấy những căn nhà lá lụp xụp như ngày nào, điện đã về đến những bản xa xôi, heo hút mà ngày đó người dân chưa bao giờ được trông thấy một chiếc ôtô chạy qua. Cũng không còn thấy những đứa trẻ cởi truồng tím tái, ngơ ngác đứng trước cửa nhà, cái hình ảnh đã gieo vào tôi một ấn tượng dai dẳng cũng trong một buổi chiều cuối năm khi mới đặt chân tới vùng này; song vẻ tần tảo nơi đây thì còn rõ lắm. Hương rượu cẩm trong bữa cơm tất niên tại nhà ông Lưu Danh Nho, một gia đình vốn là chỗ thân tình với cánh sĩ quan trẻ chúng tôi hồi đó, cứ gợi lại những cuộc rượu chỉ có lạc rang và đậu phụ nướng mà cũng kéo dài tới tàn đêm thuở nào... Nho Quan giờ đây vậy đó. Nho Quan đón tôi bằng cái tình xưa, nhưng với một hình hài mới, vóc dáng mới và một tư thế mới...
Trường II là phiên hiệu của một đơn vị quân đội, nơi mà hơn 20 năm trước, tôi đã lần đầu tiên được sống, được tiếp xúc với người Mường tại xứ Mường này, và cái câu Trâu gõ mõ, chó leo thang, quần một ống, áo một gang... tự trào về người Mường cũng là thuộc từ đây; niềm say sưa với hình ảnh những thiếu nữ sặc sỡ váy áo, ríu rít nói cười sau một chiều chợ phiên, làm náo nhiệt cả một đoạn suối sau nhà cũng bắt đầu bén vào tôi từ đây. Trường II ngày ấy buồn và lạnh, đèn dầu nước giếng, nhưng có đủ cũng đã là niềm hạnh phúc. Và mỗi khi nghĩ đến chặng đường phải đi trong những dịp về phép sao mà đằng đẵng, sao mà ngần ngại. Thế mà giờ cũng đã đổi thay nhiều. Trẻ trung từ khuôn mặt, từ tác phong của những người lính trực Tết, đến lực lưỡng những vườn cây ngày nào còn lúp xúp. Bạn bè cùng lứa còn ở lại đây giờ đều đã đeo lon cấp tá mà chẳng thấy ai già đi chút nào, chỉ có vẻ phong trần của thời gian làm họ thêm rắn rỏi... Vẫn là rượu, vẫn là hoa, vẫn là bàn thờ Tổ quốc, nhưng cái ấm áp của cảnh an cư đã toát lên từ trong vẻ lạc nghiệp của những người lính quê Nam Định, Thái Bình, Thanh Hoá, Hải Phòng... nơi xứ Mường này, dường như khoảng cách giữa nông thôn và thành thị, miền núi và miền xuôi ở nơi này đã ngắn lại nhiều lắm, từ ngày tôi xa...
Giao thừa nơi ngã ba Xưa
Khác với ở các thành phố lớn, tất cả mọi tụ tập đêm giao thừa ở vùng cao dường như chỉ trong mỗi nếp nhà, dù là nhà sàn hay nhà gạch, dù là quây quần thành chòm, thành bản hay biệt lập căn cơ. Từ thị trấn Nho Quan, tỉnh lộ 477 nối vào quốc lộ 12b chạy thẳng lên Hòa Bình, tiếp tục con đường về ăn Tết xứ Mường, nhìn ánh đèn hắt ra từ khung cửa những ngôi nhà ven đường, tôi biết giao thừa đã gần lắm. Có lẽ giờ này hiếm có ai còn trên đường như mình. Một chút xao xuyến, một chút nhớ nhung, một chút rờn rợn và một chút thích thú nữa. Cái tịch mịch của núi rừng, cái lành lạnh của đêm xuân, và cái hiu hắt của con đường hun hút làm cho cảm giác về bước chân của thời gian dường như rõ thêm, gấp gáp hơn, cả quyết hơn. Khác với những dịp đón giao thừa ở Hà Nội, thời gian cụ thể và nghiêm ngắn bằng chiếc kim đồng hồ trên màn hình vô tuyến, còn ở đây là những âm thanh không chỉ đến từ bên ngoài, tất cả cứ mênh mông, hoà quyện, không gian và thời gian, phía trước và phía sau, chia ly và đón đợi... Mấy anh bạn trực nghiệp vụ ở Đài phát thanh và Truyền hình huyện Yên Thủy (Hòa Bình) nơi ngã ba Hàng Trạm đã thực sự rất bất ngờ khi tôi xuất hiện, và lại càng bất ngờ hơn khi tôi ra đi. Sắp tới giao thừa, nhưng trong lòng mỗi người mỗi khác...
Quây quần bên chiếc Sony 19 inch, chúng tôi đón giao thừa cùng cả nước qua cầu truyền hình. Anh bạn chủ nhà trạc tuổi, sau cái ngỡ ngàng ban đầu bắt đầu vào chuyện. Vui như Tết thì không phải, nhưng đầm ấm như Tết thì đúng. Một chén rượu uống qua hai năm làm người ta như xích lại gần hơn với nhau, xích lại gần hơn với đất đai, với núi rừng, với quê hương, đất nước. Không hỏi tên, không ghi địa chỉ, không hẹn ngày tái ngộ. Với họ, tôi chỉ là khách độ đường, nhưng cái thiêng liêng của giây phút chuyển giao thời gian ấy, cái cởi mở và hiếu khách của người dân miền núi ấy đã cho tôi một giao thừa ấm áp, một niềm chia sẻ giữa hoang vu, mà ánh mắt ngần ngại của họ khi chia tay là cả một trời đằm thắm tình người...
Lên đường trong giờ phút mà ở thành phố người ta thường rủ nhau đi hái lộc để cầu mong một năm mới nhiều may mắn và hạnh phúc, tôi ùa vào vô vàn những lộc non vừa nhú của núi rừng. Mưa xuân lất phất như gột rửa những lớp bụi mỏng trên lá, trên cành, trên con đường trước mặt khiến con đường như sẫm lại, những mầm cây ven đường gặp ánh đèn pha sáng lên một ánh sáng óng ả, màu mỡ. Mùi đất ngai ngái, mùi nước mưa, mùi sương đêm ngát lên kỳ lạ, tạo nên một cảm giác đê mê nơi sống mũi. Và bỗng nhiên tôi muốn dừng lại, muốn dang tay thật rộng và hét thật vang lên giữa núi rừng một điều gì đó như là ngạo nghễ, như là yêu thương...
Dần lùi lại sau lưng những thị trấn Vụ Bản, Mãn Đức, Mường Khển đang lim dim ngủ với những con đường vắng tanh và sạch bóng, tôi dừng chân bên một xóm Mường chừng hơn chục nóc nhà sàn dưới chân đèo Quy Hậu. Ở đấy nơi cửa Voóng, những mâm cỗ cúng vẫn đỏ hương...
Đầu năm xông đất
Chẳng hiểu người Mường có chọn người xông đất như người Kinh hay không, nhưng tôi thì đã được vị chủ nhà đêm ấy đón tiếp bằng một thái độ thật lạ: tận tình, chu đáo, nhưng cũng thật xa vời...
Lên khỏi cầu thang, sau lời chúc đầu năm, tôi ngỏ ý xin nghỉ lại gia đình. - "Ừ!", người đàn ông đứng tuổi trong số 3 người đàn ông và 2 người đàn bà có mặt trên sàn trả lời cụt lủn. - "Xe để dưới sân được chứ?" - "Ừ!". (Lại ừ). Lát sau cũng chính ông ta mời: - "Uống rượu". Lần này người "Ừ" là tôi... Và đêm đó, bên ngọn đèn đỏ quạch được thắp sáng bằng một máy thuỷ điện nhỏ từ con suối sau nhà, tôi đã gà gật trong nhà của người Mường, tham gia bập bõm vào câu chuyện lẫn lộn tiếng Kinh, tiếng Mường của họ cho đến khi tiếng chim rừng rõ dần, rõ dần và tiếng nói chưa kịp quen kia cất lại lên: - "Dậy ăn Tết"...
Dòng nước dẫn từ suối về nhà bằng một chiếc máng làm từ những thân vầu bổ đôi, đục mắt, mát lạnh làm tôi tỉnh ngủ hẳn. Mọi năm, đây thường là lúc cảm giác cũ kỹ, mệt mỏi ùa về, người ta bảo nhau: Thế là hết Tết. Còn hôm nay, lời mời "dậy ăn Tết" của vị chủ nhà bất đắc dĩ làm tôi thấy tất cả như mới mẻ, tất cả như còn chờ đợi, nguyên sơ và hứa hẹn. Nhìn ra con đường trước mặt vắng tanh khuất dần giữa hai vách núi phủ đầy sương trắng, tôi biết tất cả còn dài lắm, không chỉ hôm nay, không chỉ ngày mai. Một điều gì đó như là trách nhiệm, như là sự hối thúc đang giục giã... Sau lời chào cảm tạ, ông chủ nhà giúp tôi đẩy chiếc xe máy mà đêm qua ai đó đã xếp gọn gàng bên cạnh một chiếc xe Minsk của gia chủ dưới chân cầu thang nhà sàn ra sân. Không cười, không bắt tay, không chút gì tỏ ra lưu luyến, nhưng khi đã đi được một đoạn dài, quay lại vẫn thấy họ đứng nhìn theo từ cửa...
Xa dần Quy Hậu, xa dần Dốc Má, Dốc Cun với những vách đá sừng sững, cheo leo, với những đoạn cua tay áo, với những thị trấn nhỏ xíu ven đường vừa tỉnh giấc, đang còn dè dặt trước một năm mới. Đây đó trên đường là những tốp thanh niên nam nữ vừa đi vừa trò chuyện. Có lẽ sự có mặt của một người khách lạ là tôi trên đường lúc này lạ lắm, nên cách họ trông theo cũng thật lạ. Chỉ khi thấy tôi cười, họ mới đáp lại bằng những nụ cười thật tươi, những nụ cười nhuốm màu sơn cước...
Xứ Mường, nơi đã từng cho tôi những tháng năm ngỡ ngàng và say đắm, xứ Mường cũng đã để lại trong tôi những kỷ niệm không dễ nhạt phai, cũng xứ Mường đã ôm ấp đùm bọc tôi qua những trống trải, ngơ ngác khi một khoảng thời gian vô cùng vừa khép lại, giờ đây lại đặt ra cho tôi một câu hỏi lớn, không phải chỉ riêng cho tôi, mà là cho chúng tôi, một thế hệ từng được nâng niu, chăm bẵm, từng được nuôi nấng trong đủ đầy, hoan lạc. “Làm thế nào để bảo tồn được văn hóa của người Mường mà đời sống của người dân không vì thế mà trở thành lạc hậu?”. Mãi tới khi đã vùi đầu vào chăn trong căn buồng mà vợ chồng anh bạn thi sĩ xứ Mường nhường lại, gân cốt như giãn ra sau mấy ngày rong ruổi, câu hỏi ấy vẫn chưa chịu nhường chỗ cho cơn buồn ngủ. Tiếng sột soạt của loài gặm nhấm kiếm ăn đêm bên cạnh, và xa xa là tiếng sóng vỗ nhẹ nơi lòng hồ như chắc rằng: tôi đã từng ăn cơm xứ Mường, tôi đang ngủ ở xứ Mường, và tôi vừa đón chào một năm mới với bao nhiêu dự định, bao nhiêu hy vọng ngay trên đất Mường này, thì phải chăng câu hỏi đó sẽ còn là một món nợ từ sâu thẳm lòng mình...
Bút ký của Lương Ngọc An