Bài thơ tức cảnh thoạt nghe có vẻ giản dị mà ý tứ thật thâm trầm, ẩn chứa cả một bầu tâm sự. Tác giả là nhà thơ Ưng Bình Thúc Giạ Thị (1887 - 1961), uyên thâm Hán học, tinh thông Pháp ngữ, dòng dõi cành vàng lá ngọc song lại nổi tiếng trong dân gian với những câu hò Huế hết mực bình dân. Ông tốt nghiệp trường Quốc học, đỗ đầu kỳ thi Ký lục năm 27 tuổi, đỗ cử nhân Hán học năm 33 tuổi. Đường hoạn lộ suôn sẻ, làm đến Bố chánh, Tuần vũ, Phủ doãn Thừa Thiên nhưng 57 tuổi xin về hưu, hàm Thượng thư trí sự, vui với thơ văn cho đến hết đời, thọ 85 tuổi (tính tuổi ta). Ưng Bình là cháu nội Tuy Lý vương Phúc Miên, con trai thứ 11 vua Minh Mạng, dân Huế thường gọi ông Hoàng Mười Một. Ông cùng người anh, ông Hoàng Mười Tùng Thiện vương Miên Thẩm, là hai nhà thơ lừng danh, được vua Tự Đức cũng là một nhà thơ tinh tế ngợi ca: Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán/ Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường (Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát - Tùng Thiện vương, Tuy Lý vương).
![]() |
Bài thơ trên ông làm năm Kỷ Sửu (1949), sau một thời gian "chạy loạn" tránh giặc Pháp trở về. Hồi ấy, cách đây đúng sáu mươi năm, cả đất nước ta lâm vào những ngày cực kỳ gian khó. Quân đội Pháp thất bại trong cuộc tiến công lên chiến khu Việt Bắc song ta cũng khó tránh tổn thất. Ở Nam Bộ, giặc Pháp lấn ra đồng bằng. Tại ba tỉnh Bình Trị Thiên, dải đất hẹp miền Trung kẹt giữa bờ biển dài trống trải và dãy Trường Sơn hiểm trở, bị ngăn cách khỏi hai miền Bắc, Nam bởi đèo Hải Vân ở phía Nam và sông Gianh cùng đèo Ngang ở phía Bắc. Ngày ngày khói lửa giặc Pháp đốt làng, phá hoại mùa màng ngút trời. Cuộc kháng chiến của quân dân địa phương vô cùng dũng cảm. Những cụm từ quen thuộc: "Bình Trị Thiên khói lửa", "Bình Trị Thiên đau thương và anh dũng" xuất hiện từ thực tiễn ấy. Giặc Pháp càn quét tận làng Vĩ Dạ, cách nội thành Huế mỗi cái Đập Đá, với nhiều dinh thự thâm nghiêm của các ông hoàng bà chúa, nhà vườn nền nã của các vị quan đầu triều, làng Vĩ Dạ của những vườn cau và cây ăn trái, những cô gái dịu hiền chung thủy: Sao anh không về thăm thôn Vĩ/Xem nắng hàng cau nắng mới lên... (Hàn Mặc Tử), Một thương thì sự đã liều/Thì theo cho đến xế chiều chứ sao... (Nguyễn Đình Thư). Cái làng Vĩ Dạ ấy, giặc Pháp cũng không chừa.
Trong năm Kỷ Sửu 1949, nhà thơ Ưng Bình viết: Săn nai săn thỏ chuyện đà thường/Nay lại săn người chốn Vĩ Hương/Già trẻ gái trai chung một lứa/Ngậm than ngùi thở với tang thương. (2)
Trong quân đội viễn chinh Pháp có nhiều lính lê dương gốc châu Phi: Sénégal, Maroc, Algérie... bị ép buộc hoặc do hoàn cảnh đi làm lính đánh thuê. Trước thực tế Việt Nam, nhiều người tỉnh ngộ, chạy sang hàng ngũ "Việt Minh" và lập được công, sống hòa hợp cùng đồng bào ta. Số đông hằng ngày phải cùng lính Pháp đi đánh nhau với quân "Việt Minh", cướp phá làng mạc, bố ráp dân thường. Những nhiệm vụ nào nguy hiểm, sĩ quân Pháp xua lính da đen đi trước. Người da đen đành phải bắt bớ, tróc giải dân thường Việt Nam. Nhà thơ đau đớn cho quê hương, thương xót đồng bào, ta thán chiến tranh đồng thời thông cảm với những người lính da màu phải bán máu xương và mạng sống, làm những điều bất nhân hòng kiếm sống.
Thời gian đã quay vòng một hội (60 năm). Đến Kỷ Sửu này, cuộc đời đã hoàn toàn đổi khác. Người da trắng nhiều nước đua nhau đến Việt Nam, "thị trường đầy tiềm năng", "môi trường hấp dẫn" để đầu tư, tìm kiếm cơ hội làm giàu. Thanh niên da đen, da đỏ tìm đến đầu quân cho... bóng đá. Nghèo khó ở Việt Nam vẫn còn, thách thức lớn lắm, chắc chắn phải phấn đấu một thời gian không ngắn nữa mới mong mang lại tự do trọn vẹn và hạnh phúc đầy đủ cho toàn dân. Dù sao đất nước đã độc lập, một dải vẹn toàn. Vị thế quốc gia lên cao trên chính trường quốc tế. Người dân Việt ngẩng đầu tự hào với Việt Nam - Hồ Chí Minh. Không còn ai oán ngậm than ngùi thở với tang thương bởi chiến tranh, bởi áp bức của người ngoại bang.
Phan Quang
