Ung thư vú hiện là một trong những gánh nặng y tế lớn đối với phụ nữ. Theo thống kê GLOBOCAN 2024, Việt Nam ghi nhận khoảng 25.711 ca ung thư vú mới mỗi năm, chiếm 28,1% tổng số ca ung thư ở nữ giới.
Trong đó, phần lớn người bệnh thuộc nhóm ung thư vú có thụ thể nội tiết dương tính, thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì người 2 âm tính (HR+/HER2−).
Với nhóm bệnh này, liệu pháp nội tiết kết hợp thuốc nhắm trúng đích là nền tảng điều trị quan trọng. Tuy nhiên, sau một thời gian, khối u có thể xuất hiện tình trạng kháng nội tiết, khiến bệnh tiếp tục tiến triển và đặt ra thách thức trong lựa chọn phương pháp điều trị tiếp theo.

PGS.TS.BS Lê Thanh Đức phát biểu chủ toạ hội thảo. Ảnh: Ngọc Tân
Đây là nội dung trọng tâm được thảo luận tại hội thảo khoa học "Lấp đầy khoảng trống và Kiến tạo giải pháp: Hành trình mới trong điều trị ung thư vú di căn HR+/HER2− với lựa chọn capivasertib", do Hội Ung thư Việt Nam và AstraZeneca Việt Nam phối hợp tổ chức tại Hà Nội chiều 6/12. Hội thảo quy tụ các chuyên gia trong nước và quốc tế nhằm cập nhật những lựa chọn điều trị khi bệnh tiến triển trong hoặc sau liệu pháp nội tiết.
Chủ toạ hội thảo, PGS.TS.BS. Lê Thanh Đức - Bệnh viện K bày tỏ nhận định, khi người bệnh ung thư vú thụ thể nội tiết dương tính HER2 âm tính tiến xa hay còn gọi là di căn được điều trị phác đồ có liệu pháp nội tiết, đến một lúc nào đó sẽ xuất hiện kháng trị. Cả người bệnh và bác sĩ đều đứng trước áp lực và thách thức lớn trong việc lựa chọn hướng điều trị tiếp theo, mà thông thường sẽ là hóa trị gây độc tế bào.
"Trong bối cảnh đó, nếu người bệnh có một lựa chọn điều trị hiệu quả với liệu pháp nhắm đích mới kết hợp với nội tiết nền tảng một cách kịp thời, điều này không chỉ giúp kéo dài thời gian sống không tiến triển bệnh mà còn giúp người bệnh duy trì chất lượng sống, trì hoãn tối đa việc phải chuyển sang hóa trị với nhiều tác dụng phụ"- PGS.TS.BS Lê Thanh Đức nói.
Chính vì vậy, xu hướng chăm sóc hiện nay đang hướng tới những giải pháp điều trị tiên tiến có thể đáp ứng nhu cầu của nhiều nhóm người bệnh ở các giai đoạn khác nhau. Khi bệnh tiến triển, điều quan trọng là nhanh chóng đưa người bệnh đến lựa chọn điều trị hiệu quả tiếp theo, tránh để họ bỏ lỡ thêm cơ hội kiểm soát bệnh.

Quang cảnh hội thảo. Ảnh: Ngọc Tân
Ở ung thư vú HR+/HER2− tiến triển, các đường truyền tín hiệu bên trong tế bào có thể hình dung như một hệ thống truyền lệnh giúp khối u phát triển và tồn tại. Khi hệ thống này bị lỗi và hoạt động bất thường, tế bào ung thư có thể tiếp tục tăng sinh, trở nên kém đáp ứng với liệu pháp nội tiết.
Một trong những hướng tiếp cận mới được đề cập tại hội thảo là capivasertib, thuốc nhắm vào protein AKT trong con đường truyền tín hiệu bên trong tế bào. Khi các đường truyền tín hiệu này bị biến đổi, tế bào ung thư có thể tiếp tục phát triển và trở nên kém đáp ứng với điều trị nội tiết.
Kết quả thử nghiệm lâm sàng toàn cầu pha III CAPItello-291 cho thấy, việc bổ sung capivasertib vào phác đồ fulvestrant giúp cải thiện đáng kể thời gian sống không tiến triển bệnh so với chỉ sử dụng fulvestrant. Ở nhóm người bệnh có biến đổi gen thuộc con đường AKT, thời gian sống không tiến triển bệnh trung vị đạt 7,3 tháng ở nhóm phối hợp, so với 3,1 tháng ở nhóm đối chứng.

GS. Shaheenah Dawood, Đại học Y khoa và Khoa học Sức khỏe Mohammed Bin Rashid tham luận tại hội thảo. Ảnh: Ngọc Tân
GS. Shaheenah Dawood, Đại học Y khoa và Khoa học Sức khỏe Mohammed Bin Rashid, nhấn mạnh, khi ung thư vú tiến triển, mỗi quyết định điều trị tiếp theo đều có ý nghĩa quan trọng. Một lựa chọn điều trị hiệu quả, được triển khai kịp thời cho đúng nhóm người bệnh sẽ góp phần mở thêm cơ hội kiểm soát bệnh và tối ưu hóa hành trình điều trị.
Các chuyên gia lưu ý, không phải mọi trường hợp ung thư vú HR+/HER2− đều phù hợp với cùng một phác đồ. Do đó, người bệnh cần được thăm khám, đánh giá chuyên sâu và tư vấn bởi bác sĩ ung bướu.
Theo Hướng dẫn sàng lọc phát hiện sớm ung thư vú của Bộ Y tế ban hành kèm Quyết định số 3898/QĐ-BYT, phụ nữ từ 25 tuổi trở lên được khuyến cáo tự khám vú hằng tháng sau sạch kinh 5 ngày. Tuy nhiên, tự khám vú không thay thế khám lâm sàng và các phương pháp sàng lọc chuyên môn. Việc lựa chọn chụp X-quang tuyến vú, siêu âm hoặc cộng hưởng từ cần căn cứ vào độ tuổi, mức độ nguy cơ và tư vấn của nhân viên y tế.
Đặc biệt, những phụ nữ có mẹ, chị em gái hoặc người thân mắc ung thư vú, tiền sử bản thân có tổn thương tuyến vú nguy cơ cao hoặc mang biến đổi gen di truyền liên quan cần được đánh giá nguy cơ và tư vấn lịch theo dõi phù hợp.
Phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm giúp tăng cơ hội điều trị hiệu quả, giảm nguy cơ di căn và cải thiện chất lượng sống. Trong khi đó, với người bệnh đã tiến triển hoặc di căn, việc cập nhật các phương pháp điều trị mới, cá thể hóa phác đồ và theo dõi sát đáp ứng điều trị có ý nghĩa quan trọng trong kiểm soát bệnh lâu dài.
Sự kết hợp giữa nâng cao nhận thức cộng đồng, chủ động sàng lọc, chẩn đoán kịp thời và tiếp cận các tiến bộ điều trị được kỳ vọng góp phần giảm gánh nặng ung thư vú, mang lại thêm cơ hội sống khỏe cho người bệnh.
