“Mẹ Mơ” nơi đỉnh trời A Dơi

Xã hội
Dù ông già Hồ Mơ lẫy lừng, bốn lần được phong danh Dũng sĩ diệt Mỹ nhưng đồng bào Pa Kôh, Vân Kiều và cả những cán bộ nơi đây vẫn bảo già Mơ là… “mẹ”, không phải là ông, cha. Bởi hơn 30 năm qua, già đã nhận cả chục đứa trẻ không nơi nương tựa về nuôi nấng và còn lo chăm cho đời sống của nhiều bà con nơi đây.

Dù ông già Hồ Mơ lẫy lừng, bốn lần được phong danh Dũng sĩ diệt Mỹ nhưng đồng bào Pa Kôh, Vân Kiều và cả những cán bộ nơi đây vẫn bảo già Mơ là… “mẹ”, không phải là ông, cha. Bởi hơn 30 năm qua, già đã nhận cả chục đứa trẻ không nơi nương tựa về nuôi nấng và còn lo chăm cho đời sống của nhiều bà con nơi đây.

Từ thị trấn Khe Sanh, huyện Hướng Hóa (Quảng Trị) vào đỉnh trời A Dơi mất gần non nửa ngày đường chạy xe máy vượt dốc. Chạm bánh xe đến địa phận A Dơi, tôi gặp một thanh niên mình đen sắt như lõi gỗ mun vẫy tay xin quá giang.

Lưng mang một gùi đầy măng và rau rừng, tay cầm con dao lài, thứ dao đi rừng quen thuộc của người dân tộc vùng này, tiếng Kinh lưu loát. Hồ Loang, tên người thanh niên này, xoay chiếc gùi, xếp gọn sau đuôi xe rồi ngồi chắc chắn và không quên châm điếu thuốc lá, phả khói nặng gắt. Tôi nhấn tay ga và hỏi thăm về già Mơ. Loang đùa chúng tôi: “Không có già Mơ. Chỉ có “mẹ Mơ” thôi. Nhà mẹ ở gần bản miềng (mình), cách nửa ngọn núi thôi. Nhắc đến là đồng bào miềng tự hào và sướng cái bụng lắm! Cứ chạy, miềng chỉ cho”.

Niềm tự hào của đồng bào

Căn nhà sàn của già Hồ Mơ ở bản Prin C, xã A Túc không khang trang nhưng rộng rãi và có cái thế nằm đẹp. Trước mặt là mấy ruộng lúa nước vào đoạn trổ đòng xanh mướt. Hông và lưng nhà tựa vào chân ngọn Văn Kay, bên kia núi ấy đã là đất của bản Xê Tam Muội, tỉnh Savannakhet của nước bạn Lào, muốn đến chỉ mất chưa đầy nửa giờ băng rừng.

Biết có người lạ, già Mơ đon đả ra tận cái cổng tre chắc chắn trước nhà để ngăn thú rừng, mở cửa đón khách. Tôi được “diện kiến” người anh hùng - niềm tự hào của đồng bào Pa Kôh miền Tây Quảng Trị - già Mơ đã bốn lần được Nhà nước phong tặng là “Dũng sĩ diệt Mỹ”. Già Mơ mất một chân trong cuộc kháng chiến giữ nước lẫy lừng của dân tộc. Già sinh năm 1938, đã sống qua 73 mùa lúa nhưng đôi mắt vẫn trong vắt, quắc sáng lắm, giọng nói vẫn sang sảng như trai bản. Theo già lý giải, 56 năm trong quân ngũ, truyền lệnh, đáp lệnh đã rèn nên cái giọng ấy.

Chén nước lá dùng để mời khách quý được “dũng sĩ” tận tay rót mời tôi. Câu chuyện về cuộc đời “dũng sĩ” Hồ Mơ bắt đầu khi cơn mưa chiều - “đặc sản” của miền Tây xứ Quảng - quấn mù cả một góc trời đại ngàn. Cái tuổi “bẻ gãy sừng trâu” của chàng trai trẻ Hồ Mơ cũng đúng vào cái năm quân Mỹ bắt đầu đổ bộ xâm lược miền Nam nước Việt. Năm 1955, lần đầu tiên Hồ Mơ gặp anh “bộ đội Cụ Hồ” dưới xuôi lên cũng là lúc chàng thanh niên 17 tuổi xin gia nhập vào hàng ngũ cách mạng.

Chàng Hồ Mơ là một trong những thanh niên cường tráng của bản Hê Lơ, giáp đất bạn Lào thuộc xã A Vao, huyện Đăkrông (Quảng Trị). Từ việc ngày ngày chỉ biết băng rừng theo săn con thú, con chim nay đã biết theo cách mạng chinh chiến khắp nơi để “săn” thằng Mỹ xâm lược. Hồ Mơ là chiến sĩ thuộc Đoàn 59 - C11. Đến tháng 4/1964, nhờ sự gan dạ và lập được nhiều chiến công nên Hồ Mơ được giao nhiệm vụ làm Tiểu đoàn trưởng B45 - K54, thuộc Quân khu Trị Thiên - Huế. “Chống Mỹ chiến trận ác liệt lắm. Bây giờ đôi khi cố vắt óc nghĩ lại mình đã cầm súng đánh bao nhiêu trận với thằng Mỹ rồi nhưng già vẫn không nhớ nổi” - già Mơ kể.

Giữa mùa xuân năm 69, khi mặt trận Đường 9 - Nam Lào bước vào giai đoạn ác liệt nhất thì trong một trận tiến công, không may bị quân Mỹ - ngụy phục kích, anh bộ đội Mơ bị thương nặng, phải di chuyển ra hậu phương miền Bắc để điều trị. Sau gần 12 năm luân chuyển qua nhiều bệnh viện, trạm quân y khác nhau, năm 1981, Hồ Mơ mới được trở về với một phần thân thể là cái chân phải nằm lại chiến trường và tỷ lệ thương tích là 34%. Già Mơ vẫn tiếp tục cống hiến sức lực trong quân ngũ và đến năm 85, già về nghỉ hưu với quân hàm thiếu tá.

Để bây giờ, bên bếp lửa hồng nồng đượm ấm áp hằng đêm, nhiều già làng, đồng bào Pa Kôh, Vân Kiều vẫn tự hào kể mãi về câu chuyện dũng sĩ diệt Mỹ Hồ Mơ để con cháu đời sau mãi noi theo và nhắc nhớ…

 “Mẹ Mơ” quây quần, hạnh phúc cùng các cháu.

“Người mẹ” không biên giới

Khí trời nơi miền sơn cước về cuối chiều êm đềm đến lạ. Những cơn gió nhẹ từ nước bạn Lào nặng hơi sương mù bảng lảng trong tiếng chim rừng lảnh lót, tiếng suối róc rách nghe rõ bên tai… Câu chuyện giữa tôi và già Mơ vốn khó khăn với khoảng cách trở ngôn ngữ miền xuôi - miền thượng cũng như đã không còn. Già Mơ nói như đùa: “Vùng này chẳng có ai có nhiều con cháu hơn già. Cứ tết đến là chúng nó về quây quần, mỗi bữa thôi cũng đã ăn hết cả con bò”.

Có lẽ đúng. Bởi đến hiện tại, già có cả thảy 13 người con cùng gần 30 cháu,  chắt. Và minh chứng rõ nhất là trong căn nhà gần chục đứa trẻ ngồi quanh ôm lấy già, chăm chú theo từng câu chuyện. “13 đứa con nhưng chỉ có 3 người là con đẻ thôi. Còn lại là con nuôi hết đấy. Nhưng có khi, già còn thương chúng hơn cả con đẻ. Hoàn cảnh chúng nó vốn bất hạnh, chịu nhiều mất mát lắm…” - già nhớ như in từng hoàn cảnh bi đát của 10 đứa con mà chính tay già lặn lội nhận về nuôi nấng nên người.

Đứa con nuôi lớn nhất của già Mơ là chị Hồ Thị Phên (người gốc Lào, ở cạnh bản già Mơ), nay đã 43 tuổi, lấy chồng ở xã A Túc (Hướng Hoá). Già Mơ nhận chị Phên về từ khi gia đình còn ở nơi cũ là xã A Vao (huyện Đăkrông). Đến năm 1981, khi cả nhà làm cuộc di cư lên Prin C (xã A Dơi), già vẫn mang theo chị Phên cùng đi. “Thương tâm lắm! Cha mẹ nó chết vì bệnh sốt rét khi nó mới 3 tuổi. Không nơi nương tựa, nó lang thang như con thú giữa rừng rú kiếm cái ăn, tối đến bạ đâu ngủ đó”.

Đứa con nuôi nhỏ nhất là Hồ Văn Tiêm (5 tuổi), đang đi học mẫu giáo ở trung tâm xã A Dơi. Tên của Tiêm do cha nuôi đặt. Cha Tiêm chết do đi rà phế liệu chiến tranh kiếm cái ăn, gặp bom bi phát nổ. Mẹ Tiêm khi mang thai vốn mang trong mình nhiều bệnh tật, lúc “vượt cạn” thì mất sức quá nên đã qua đời. Năm 2006, già Mơ bồng trên tay nhận làm con khi Tiêm còn đỏ hỏn. Kế gần Tiêm là Hồ Thị Tun, năm nay đã học lớp 6, cũng là người Lào ở bản Xê Tam Muội (Savannakhet) bố mẹ cũng mất do bạo bệnh.

Những đứa con nuôi của “mẹ Mơ”, dù sinh ra ở những nơi khác nhau, những hoàn cảnh mồ côi khác nhau. Nhưng qua hồi ức của cha nuôi, các con đều là những người bất hạnh nhất. Suốt 30 năm qua, già Mơ cứ ngóng khắp các bản làng biên giới như xã Pa Tầng, Thuận, A Túc, A Xing, đâu có trẻ mồ côi là già gói ghém hành trang lên đường đi xin nhận về nuôi ngay.

Người ta gọi già Mơ là mẹ cũng đúng. Bởi, nhận con về, lo cho cả chục đứa ăn uống, khôn lớn đã trăm bề vất vả. Đến khi đứa nào lập gia đình, dù trai hay gái đều được hưởng một “chế độ” chung là một đôi trâu hoặc bò, dựng cho một căn nhà kiên cố và cắt đất đai để làm ăn. Bà con ở trong vùng vẫn hay đùa: “Nuôi con cho khôn, cho lớn mà lấy con “mẹ Mơ” là sướng nhất!” Già lý giải: “Vốn sinh ra chúng nó đã chịu nhiều bất hạnh hơn so với người ta. Lớn lên mình nên bù đắp cho nó để làm lành vết thương lòng”. Cụ thể như anh Hồ Văn Thố (sinh năm 1974), nay lấy vợ định cư cùng bản với cha nuôi, cùng vợ và 3 con ở trong cái nhà sàn to đẹp nhất bản, nhà đủ tiện nghi và 2 chiếc xe máy.

Năm 1982, khi vợ già Mơ không may qua đời vì bệnh sốt xuất huyết hoành hành. Già buồn trong bụng lắm. Cả tháng liền già không thèm lên nương, lên rẫy… Suốt ngày chỉ biết ngồi tựa cửa xót thương vợ. “Chưa đầy 1 năm sau, già tìm vợ khác ngay. Ai trong xã cũng bảo, sao nhanh thế… Nhưng già nghĩ lúc ấy lấy vợ nữa vì cả 5-6 đứa con, già chăm nuôi một mình không đủ cái sức”. Sau này, thấy mẹ Hồ Thị Kiếm (61 tuổi- vợ hai của già bây giờ) cũng theo già, thương mấy đứa con nuôi lắm nên già cũng thương yêu bà Kiếm như vợ trước. Cũng bởi đó, già Mơ càng tâm niệm: “Con mình mất mẹ 1 năm mà đã khổ sở thế. Những đứa trẻ mồ côi khi mới sinh ra thì làm răng sống được. Rồi không người dạy dỗ thì mai này cũng trở thành đứa phá làng, phá bản”.

Và khi từng đứa con biết suy nghĩ, già đều căn dặn: “Các con không cùng cha mẹ, tổ tiên, nơi sinh ra nhưng hãy thương yêu như anh em cùng bố mẹ. Có rứa mới sống nên con người được”. “Cái bụng ông Mơ chi lạ. Thương con nuôi hơn cả 3 con đẻ, ngày tôi mới về cùng ông chăm sóc mấy đứa. Ông cứ giành hết. Từ cái chén cơm cho đến giấc ngủ, ăn uống, tắm giặt… Nhưng cũng nhờ thế mà chúng nó thương cha nuôi nhất và coi ông như cha đẻ. Khoảng một mùa trăng mà không về thăm cha là chúng nhớ quay nhớ quắt. Khi về chỉ ôm cha mà khóc mãi” - mẹ Kiếm kể.

Ngọn đuốc sáng đại ngàn

“Ở vùng biên giới Lào - Việt khác nhau về tập quán phong tục giữa các dân tộc, giữa bốn bề là hàng trăm hécta rừng trồng nhưng nhờ có già Mơ mà gần 20 năm nay rừng quanh bản Prin C không hề xảy ra một vụ cháy. Không lần nào có người bạn Lào và người Việt xảy ra một chuyện xô xát” - ông Hồ Văn Phơm, người bản Prin C nói như khoe.

Quả đúng thế thật, bởi hỏi khắp xã A Dơi ai cũng khẳng định thế. Và họ đều bảo rằng, bởi già Mơ là dũng sĩ diệt thằng Mỹ ác, là người hiểu biết nhiều nhất bản, là cha nuôi của 10 đứa con ngoan, biết chỉ cho đồng bào hai bên biên giới đoàn kết thương nhau, biết chỉ cho bà con cách phòng chống cháy rừng…

 Còn già Mơ tâm sự: “Đồng bào mình phải được no cái bụng thì nói bà con mới nghe nên già phải giúp dân mình. Không dám chặt cây quý của rừng, không phá rừng cấm làm nương rẫy”. Dù chỉ còn một chân đi khập khiễng, lại đông con nhất nhưng già Mơ thuộc hàng nông dân sản xuất giỏi và giàu có nhất xã A Dơi. Già đang canh giữ 20ha rừng, sở hữu 5ha cao su đã cho khai thác, 8ha sắn, 5ha bời lời trồng khai thác lấy vỏ và một đàn 78 con gồm cả trâu, bò, dê. Đó là chưa kể đến lợn, gà, ruộng lúa, hồ cá… Thu nhập của riêng gia đình già mỗi năm hơn 200 triệu đồng.

Khi đã ổn định được cuộc sống, già Mơ bắt đầu xắn tay giúp bà con dân bản. Prin C cách trung tâm xã hơn 5km. Năm 1985, chính tay già cùng các con mất 5 tháng trời làm một con đường từ xã vào bản Prin C nhưng chỉ đi bộ được thôi. Vẫn nghĩ thương bà con quá, già Mơ dành dụm tiền thuê máy móc về ủi, san lấp đất làm con đường đất đỏ rộng 5m vào năm 2006 và đến cuối năm ngoái, tiếp tục bỏ thêm 30 triệu đồng để hoàn thiện cho đường “hoành tráng” hơn. Đến khi đường hoàn thành, bà con đem tiền đến để “trả ơn”, nhưng già nhất định không lấy một xu và con đường ấy được bà con “khai sinh” là đường “Mẹ Mơ”.

Rồi mỗi khi nghe trong xã có người Pa Kôh hay Vân Kiều nào mất mùa, hay nghèo đói. Già lại bảo con chở gạo, tiền đến hỗ trợ. Đến mùa sản xuất lại đem con, cây giống đến để bà con gây dựng lại cơ nghiệp. Già cũng bỏ ra 25 triệu đồng để mua 5 khung nhà về dựng cho các gia đình khó khăn nhất trong bản định cư lâu dài.

Khi chia tay già Mơ ra đến giữa bản gặp anh Bí thư đoàn thôn Prin C - Hồ Xuân Giang hỏi tôi đi gặp ai về rồi bảo: “Già Mơ biết làm theo lời Bác, biết đem lời Bác dạy để nói cho bà con nghe, biết và ưng cái bụng để làm theo”.  

Bài, ảnh: Trần Nguyên Phong


Ý kiến của bạn