Mang văn chương vào với y khoa

03-01-2026 16:39 | Văn hóa – Giải trí
google news

SKĐS - Hiện nay giữa văn chương và Y khoa đang là hai lĩnh vực xem ra là khá đối lập nhau. Một bên là y học, đòi hỏi mức độ chính xác khoa học và logic, hợp lý rất là rành mạch. Còn bên kia là văn chương, thì lại là nghệ thuật đầy cảm xúc, có khi bay bổng và chẳng chịu theo một quy tắc nào cả.

Hai thế giới tưởng như là không liên quan gì với nhau, và coi nhau cứ như dầu với nước ấy.Nhưng trong thực tế của sự phát triển xã hội hóa ra, chúng lại có những cái mối liên kết khá là bất ngờ đấy. Nếu không muốn nói là khá chặt chẽ.

Nếu có dịp chúng ta sẽ cùng thử tìm hiểu sâu hơn về một cái mối nhân duyên rất đặc biệt này giữa y học và văn chương. Có một câu hỏi cũng khó trả lời là: Tại sao lại có không ít bác sĩ lại cầm bút trở thành nhà văn?

Và ngược lại, liệu văn chương có giúp ích, có bổ gì cho ngành y không?

Một câu hỏi rất là hay, chúng ta sẽ cùng xem xét qua một số bài báo, sách, rồi cả những chia sẻ tâm sự thật của những người trong cuộc nữa, cả quốc tế lẫn Việt Nam.

Ví dụ như khi xem cuốn hồi ký Những ngày ở Paris của nhà văn bác sĩ Nguyễn Hoài Nam chẳng hạn. Là một cuốn sách rất đáng để mọi người chú ý.

Mục tiêu của chúng ta là mình cùng nhau mổ xẻ cái sự kết hợp này, xem sao, nó có nói lên điều gì về cả hai lĩnh vực và có khi là về cả chính chúng ta nữa. Thử nghĩ mà xem, có bao nhiêu tên tuổi lớn trong làng văn chương thế giới từng là bác sĩ. Theo thống kê thực tế thì có khá nhiều.

Này nhé, như nhà văn viết truyện trinh thám cực hay, còn là tác giả như của Sherlock Holmes, Somerset Moham, gần đây hơn thì có Khaled Hosseini và những tên tuổi lớn khác.

Vâng, rồi ở Việt Nam mình cũng có khá nhiều bác sĩ mang văn chương vào với y khoa như bác sĩ Nguyễn Hoài Nam với cuốn sách hiện nay rất được quan tâm gần đây: "Những ngày ở Paris"

Thế thì câu hỏi là liệu đây có phải chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên không?

Hay là có cái lực hút nào đó kéo các bác sĩ từ phòng khám, bệnh viện, phòng thí nghiệm đến với trang viết thực ra không hẳn là ngẫu nhiên đâu. Có một cách nói khá hình ảnh là các bác sĩ họ được sinh ra và như có một cái ghế hạng nhất, một cái vé VIP cơ bản để xem cái vở kịch cuộc đời đang diễn ra hàng ngày.

Đúng là như vậy, họ đã được chứng kiến tận mắt những cái cột mốc quan trọng nhất của một đời người như sinh, lão, bệnh, tử. Rồi cả những chuyện rất đời thường như tình yêu, hôn nhân, ly dị, thậm chí là cả mất việc nữa.

Chính xác mà nói, thì đây chính là một cái nguồn chất liệu, có thể nói là vô tận, những câu chuyện người thật, việc thật, mà có khi một nhà văn chuyên nghiệp cũng khó mà tưởng tượng ra được với sự phát triển của y học ngày nay. Nhưng mà chắc chắn không chỉ dừng ở việc có nhiều chuyện để kể lại đâu nhé?

Mang văn chương vào với y khoa- Ảnh 1.

Có người đã đọc quyển Những ngày ở Paris của bác sĩ Nguyễn Hoài Nam, đã thấy rằng nó không chỉ là ghi lại các sự kiện không thôi. Nó còn đầy ấp những cái suy tư, nỗi niềm chiêm nghiệm về nghề nghiệp, về y đức, rồi cả về sự trưởng thành của chính bản thân tác giả nữa.

Hoàn toàn chính xác, đối với nhiều bác sĩ, việc viết lách nó trở thành một công cụ, một cách để họ xử lý, để họ tiêu hóa những trải nghiệm rất phức tạp, đôi khi là căng thẳng. Thậm chí là những điều được gọi là lớn lao và khủng khiếp trong nghề y và khi đó viết văn nó giống như một cái van xả áp tinh thần vậy. Nó giúp họ đối mặt với stress, với lo âu và đặc biệt là giúp họ tránh được cái tình trạng gọi là burnout, kiệt sức nghề nghiệp. Hiện tượng này ngày nay xảy ra rất nhiều trong khi làm việc.

Hiện tượng burnout trong ngành y hay xảy ra nhiều lắm.

Đúng thế. Nhiều nghiên cứu khoa học, ví dụ đến từ Stanford Medicine hay là AMMC cũng đã chỉ ra cái lợi ích của hiện tượng này rồi.

Viết lách còn giúp họ, các bác sĩ có không gian để suy ngẫm về những ca bệnh phức tạp, về những cái mà y học dù tốt đến mấy cũng không xác định được, thậm chí là về cả những sai sót không mong muốn, cả những cảm xúc rất mạnh mẽ nảy sinh trong quá trình làm việc. Mà bình thường có nhiều khi họ phải kìm nén lại.

Như trường hợp bác sĩ Kenneth Weinberg được nhắc đến trong cuốn Psychology Today, ông ấy chia sẻ với mọi người là ông đã tìm thấy sự khuây khỏa rõ rệt khi tham gia một chương trình viết lách giữa lúc công việc ở phòng cấp cứu nơi ông đang làm là quá áp lực.

Thật vậy văn chương nó còn giúp các bác sĩ tìm lại được cái ý nghĩa, và động lực trong công việc của người thầy thuốc. Như vậy hóa ra viết lách lại có tác dụng như một kiểu tự trị liệu, tự chữa lành cho chính những người thầy thuốc hay sao? Đúng là như vậy

Cũng giống như mình viết nhật ký để giải tỏa, nhưng mà nó có cấu trúc và chiều sâu hơn rất nhiều. Có thể hiểu nôm na là như vậy, thậm chí có những nghiên cứu ở đại học Stanford còn cho thấy là các buổi workshop về viết lách nó còn giúp giảm đáng kể mức độ căng thẳng ở sinh viên y khoa một cách rất có hiệu quả.

Qua nhiều nghiên cứu cho thấy văn chương còn giúp chính những người làm nghề y giữ gìn được cái gọi là sức khỏe tinh thần của mình.

Bởi vì họ những người thầy thuốc phải đủ khỏe mạnh về tinh thần thì mới tiếp tục công việc chữa bệnh cho người khác được.

Sự thật là trong cuộc sống người chữa bệnh cũng cần được chữa lành kể cả thể chất và tinh thần. Quan điểm trên rất là chính xác, việc viết lách nó tạo ra một cái không gian an toàn để họ đối mặt và xử lý những cái cảm xúc rất là bộn bề, phức tạp trong khi hành nghề y mà bất cứ bác sỹ nào cũng có thể mắc phảo. Đó là chuyện rất là hợp lý. Đã có rất nhiều những bác sĩ trong cuộc đời đã tìm đến văn chương để giải tỏa, để suy ngẫm.

Thế còn cái chiều ngược lại thì sao? Có những người đặt câu hỏi liệu có cách nào đưa văn chương vào y học không? Rất nhiều người đã tìm thấy trong các tài liệu này có nhắc đến một cái thuật ngữ là y học tường thuật, nghe thì cũng khá là kêu đấy, nhưng mà thú thực là rất khó để cho chúng ta hình dung một cách cụ thể.

Chẳng lẽ bác sĩ ngồi đọc thơ, phân tích chuyện ngắn thì lại chẩn đoán viêm ruột thừa nhanh hơn các bác sĩ khám bệnh được hay sao? Nghe qua thì hơi lạ tai đấy và trên báo Vietnamnet, người ta cũng đặt câu hỏi hoài nghi kiểu như vậy. Thật vậy cái sự hoài nghi đó cũng dễ hiểu thôi, nhưng mà mục tiêu của y học từơng thuật không phải là thay thế dao mổ bằng bút viết hay thay ống nghe và bằng sách văn học đâu.Y học từơng thuật mà người khởi xướng là một bác sĩ ở Đại học Columbia , nó không nhằm thay thế các kỹ năng lâm sàng, mà là để làm phong phú thêm, sâu sắc thêm những kỹ năng đó của người bác sĩ. Thực tế nó giống như là các nhà văn mượn một vài cái kỹ năng, cái ngón nghề của dân nghiên cứu văn học ấy.

Ví dụ như kỹ năng đọc kỹ, phân tích sâu để mài sắc thêm cái khả năng lắng nghe và quan sát của người bác sĩ và đọc kỹ phân tích sâu cả bệnh nhân nữa.

Nói một cách chính xác hơn, tức là tập trung vào việc thực sự thấu hiểu cái câu chuyện của bệnh nhân, hoàn cảnh và tâm tư của họ, chứ không chỉ đơn thuần là nhìn vào mấy cái triệu chứng ghi trên bệnh án. Nhưng có phải nó giống cái câu nói rất nổi tiếng của bác sĩ Osler đã viết ở đâu đó ?

Biết bệnh nhân là người thế nào thì quan trọng hơn nhiều việc biết bệnh nhân mắc bệnh gì. Đó là tinh thần chủ đạo của việc khám và chữa bệnh

Hoặc là dẫn chứng từ một câu nói khác cũng có ý nghĩa tương tự, mà trong ngành y mà các thầy thuốc thường nói mà tâm niệm là không có bệnh tật, mà chỉ có bệnh nhân và Bác sĩ là chữa người bệnh chứ không phải chỉ chữa bệnh.

Mỗi một cuộc gặp gỡ giữa bác sĩ và bệnh nhân, thực chất nó là một câu chuyện đang diễn ra. Bác sĩ cần có cái mà người ta gọi là năng lực tường thuật một vấn đề, tức là cái khả năng nhận biết, tiếp thu này, diễn giải và quan trọng là hành động dựa trên câu chuyện và hoàn cảnh của người khác. Nó không chỉ là nghe bằng tay mà còn là nghe bằng cả trái tim, bằng sự tinh tế nữa. Là phải tiến hành cá thể hoá từng bệnh nhân

Nghe ra thì sâu sắc quá, nhưng điều này nó giúp nuôi dưỡng sự thấu cảm một cách thực chất, giúp bác sĩ nhìn nhận các vấn đề vượt ra ngoài cái chẩn đoán khô khan, ví dụ không chỉ là ca viêm phổi giường số 5, mà là bác A, một người cha đang rất lo lắng cho gia đình của mình. Một việc nữa cũng rất cần ở người thầy thuốc là phải hiểu cả con người đằng sau căn bệnh . Hiểu được cái mối bận tâm chính thực sự của họ là gì, chứ không chỉ là cái lý do chính để bệnh nhân đến khám mà họ khai ban đầu. Đôi khi hai cái đó nó khác xa nhau nhiều lắm. Do bệnh nhân có thể họ ngại nói ra cái lo lắng sâu xa hơntrong cuộc sống của mình. Một điểm nữa cũng rất quan trọng là nó giúp bác sĩ tự nhận diện và gỡ bỏ những cái định kiến và những cái thành kiến có thể có của bản thân mình một cách vô thức.

Cụ thể như là có sinh viên y khoa, sau khi được yêu cầu viết lại câu chuyện về một bệnh nhân đến phẫu thuật giảm cân, thì bạn sinh viên đó mới nhận ra là hóa ra mình đã có những cái nhìn khá là tiêu cực, khá là định kiến về những người thừa cân béo phì, nên phải đổi cách viết ra giúp họ nhận thức được điều đó.

Như vậy mục đích cuối cùng là để bác sĩ bớt máy móc đi. Bớt giống hìình ảnh của những robot mặc áo blouse trắng mà đôi khi người ta hay hình dung để tăng cái kết nối người với người hơn trong mối quan hệ thầy thuốc và bệnh nhân. Nhiều công trình nghiên cứu đaã xác nhận như vậy

Nhưng mà liệu việc đưa văn chương vào với y khoa chỉ dừng ở việc giúp bác sĩ trở nên tử tế hơn, dễ thương hơn thôi, hay là nó thực sự cải thiện được chất lượng khám chữa bệnh? Đó là một vấn đề cần phải nghiên cứu kỹ.

Bởi vì như lập luận trên Vietnamnet, sự thấu cảm nó có thể đến từ lòng tốt bẩm sinh, từ kinh nghiệm sống, từ hiểu biết văn hóa, hay là từ kỹ năng giao tiếp được đào tạo bài bản chứ đâu có nhất thiết cứ phải lôi văn chương vào, nhưng có một điều là khi bác sĩ lắng nghe tốt hơn, kỹ hơn, họ có thể nắm bắt được những chi tiết quan trọng mà có thể bị bỏ qua nếu chỉ khám và hỏi bệnh theo quy trình thông thường. Điều này sẽ đưa đến khả năng bác sỹ sẽ chần đoán chính xác hơn nhiều. Khi đó về phía bệnh nhân cũng cảm thấy mình thực sự được lắng nghe, được thấu hiểu như một con người thật, họ sẽ có lòng tin hơn vào bác sĩ. Và trong y khoa thì lòng tincủa bệnh nhân là rất quan trọng. Khi có lòng tin thì họ sẽ hợp tác tốt hơn trong việc điều trị, tuân thủ y lệnh tốt hơn. Cái này có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả điều trị. Đó là điều đã được thực tế trong hàng ngàn năm qua chứng minh là đúng.

Mang văn chương vào với y khoa- Ảnh 2.

Ngoài ra, y học tường thuật còn thúc đẩy bác sĩ phát triển tư duy phản biện, suy ngẫm nhiều hơn về các khía cạnh của con người, khía cạnh đạo đức trong y học. Đây là những điều mà chương trình đào tạo y khoa truyền thống, vốn nặng về y sinh học, đôi khi chưa nhấn mạnh đủ. Nó cũng giống như những trăn trở về y đức trong cuốn những ngày ở Paris mà chúng ta đã từng biết khi đọc qua những trang viết.

Chính xác hơn, văn chương ở đây còn đóng vai trò như một cái lăng kính, một tấm gương để soi chiếu những vấn đề đạo đức phức tạp trong y khoa và trong xã hội. Cho nên, điểm mấu chốt không chỉ là tử tế hơn đâu, mà là chăm sóc hiệu quả hơn, thông qua sự thấu hiểu sâu sắc hơn. Điều này khá thuyết phục. Nhưng mà nói đi thì cũng phải nói lại, viết văn, nhất là viết cho hay, cho có chiều sâu, đâu phải chuyện đơn giản. Đó là điều chắc chắn đối với mọi người. Đặc biệt là với những người làm khoa học, quen với tư duy logic, ngôn ngữ chính xác như là các bác sĩ. Trên tạp chí BMC, các nhà biên tập đã chỉ ra khá nhiều cạm bẫy, mấy cái lỗi mà bác sĩ mới tập viết văn hay gặp phải. Đó là những lỗi rất thực tế. Bác sĩ Alan, một nhà văn nổi tiếng có chỉ ra một số cái hố mà người làm y tế dễ rơi vào khi thử sức với viết lách sáng tạo.

Thứ nhất là cái mà mình có thể gọi nôm na là bệnh nghề nghiệp trong cách viết, tức là viết cứ như đang làm báo cáo ca bệnh trước đồng nghiệp hay trước cấp trên, Rất là khô khan vì chỉ liệt kê sự kiện. giống như chỉ chú trọng kể lể sự thật cho đầy đủ thôi, thay vì cho thấy, showing cái trải nghiệm của con người một cách sống động, bằng hình ảnh, âm thanh, cảm xúc, bằng lời thoại tự nhiên, nó giống như là mình đọc một cái công thức nấu ăn thay vì được nếm thử, được ngửi mùi vị của món ăn thực sự vậy.Trong thực tế đó là cách ví von khác dễ hiểu.

Bẫy thứ hai là xu hướng thích những cái kết thúc nó phải gọn gàng, đâu vào đấy, có hậu. Kiểu như trong phim Hollywood ấy. Nhưng mà cuộc sống thực và đặc biệt là bệnh tật thì nó vốn phức tạp, lắm lúc lộn xộn đau buồn. Không phải lúc nào cũng có cái kết đẹp được, cứ né tránh cái sự hỗn loạn cái nỗi đau đó. Cố gắng gò ép thành những câu chuyện anh hùng ca có hậu thì chưa chắc đã chân thực và lay động được trái tim của mọi người. Nhất là trong khi ấy cuộc sống không phải lúc nào cũng màu hồng.

Thứ ba là đôi khi quên mất độc giả là ai, tức là viết chủ yếu để cho bản thân mình đọc, để tự suy ngẫm thôi, mà quên mất là mình đang kể một câu chuyện cho người khác nghe, đặc biệt là người ngoài ngành y. Do dùng nhiều thuật ngữ chuyên môn quá chẳng hạn. Thật vậy, dùng từ chuyên ngành mà không giải thích, thiếu bối cảnh.Nó cứ như là mình đang đứng giữa đám đông và tự nói chuyện một mình vậy.

Và cái cuối cùng, thứ tư, đôi khi là thiếu đi một chút khiêm tốn cần thiết.

Thiếu khiêm tốn là việc rất hay xảy ra với bác sĩ, vì bác sĩ thì thường quen với vai trò là chuyên gia, là người biết rõ nhất trong lĩnh vực của mình rồi, nhưng mà viết lách nó là một lĩnh vực khác, một sân chơi khác, nó đòi hỏi sự kiên nhẫn, sự học hỏi từ đầu và sự khiêm tốn khi nhìn nhận một vấn đề

Có một câu chuyện vui được kể lại là nhà văn Mauget Loren từng nói với một bác sĩ phẫu thuật rất giỏi, người đang muốn bỏ nghề đi viết văn ấy, rằng: Ồng từng nói, có sự trùng hợp thật đấy, tôi cũng đang định khi nào nghỉ viết thì sẽ chuyển sang làm phẫu thuật não đấy. Đó là một cách nhắc nhở rất thâm thúy. Chuyện này có ý là giỏi cái này không có nghĩa là tự động sẽ giỏi cái kia. Một nguyên tắc cơ bản là nhà văn cần phải có sự tôn trọng và học hỏi nghiêm túc với lĩnh vực mới. Và còn một vấn đề nữa, có vẻ còn phức tạp hơn, liên quan đến đạo đức nghề nghiệp. Đó là khi bác sĩ viết về câu chuyện của bệnh nhân. Đây là một vấn đề cực kỳ nhạy cảm và quan trọng. Câu hỏi cốt lõi ở đây là câu chuyện này thực sự là của ai? Bác sĩ đúng là người được nghe rất nhiều câu chuyện trong phòng khám, nhưng điều đó không có nghĩa là họ được quyền sở hữu những câu chuyện đó.

Những câu chuyện ấy là kết quả của sự tương tác, sự đồng kiến tạo giữa bác sĩ và người bệnh. Cho nên, nếu muốn sử dụng những câu chuyện đó, đặc biệt là để viết thành sách, báo hay các tác phẩm cung bố rộng rãi, chúng ta thì phải hết sức cẩn trọng.

Thứ nhất là phải có sự đồng ý rõ ràng từ bệnh nhân va2p hải xin phép bằng văn bản

Thứ hai là phải thay đổi thông tin cá nhân, chi tiết nhận dạng một cách cẩn thận để không ai có thể nhận ra đó là người nào, đảm bảo tính ẩn danh và bí mật tuyệt đối. Cái này là quan trọng lắm

Cuối cùng là phải tránh mọi xung đột lợi ích có thể xảy ra, cái ranh giới giữa vai trò bác sĩ đang điều trị và vai trò nhà văn đang tìm kiếm chất liệu ở đây nó rất là mong manh và rất dễ bị xóa nhỏa

Bác sĩ nhà văn O Lazares cũng từng đề cập đến cái ranh giới đôi khi khá mở này, giữa một bên là bác sĩ viết văn tức là người chủ yếu vẫn là bác sĩ, thỉnh thoảng viết lách, và một bên là nhà văn vốn là bác sĩ, người mà xem việc viết là chính dù nền tảng kiến thức là y khoa. Như thế nào đi nữa hai vai trò này có những trách nhiệm và góc nhìn khác nhau và như vậy là rõ ràng cái mối quan hệ giữa y học và văn chương này nó phức tạp và đa chiều thật. Nó vừa hỗ trợ lẫn nhau, nhưng cũng vừa đặt ra những cái thách thức, những điểm cần phải cân nhắc kỹ lưỡng cho người cầm luật

Y học thì luôn tìm đến cho người viết chất liệu phong phú, góc nhìn độc đáo về con người. Như lắng nghe sâu, phân tích tinh tế, thấu cảm, lại có thể trở thành công cụ quý giá giúp bác sĩ làm tốt hơn công việc của mình, hiệu quả hơn trong việc chăm sóc bệnh nhân.

Dường như cả hai lĩnh vực này, dù bằng những phương pháp, những lăng kính rất khác nhau, thì cuối cùng đều hướng đến một mục tiêu chung: Đó là cố gắng để thấu hiểu thân phận con người.

Có người còn ví von rằng, việc học cách giải phẫu câu chuyện của bệnh nhân, nó cũng quan trọng không kém gì việc học giải phẫu cơ thể người.

Đó là một cách ví von rất hay.Nhiều tác phẩm như Những Ngày ở Paris của bác sĩ Nguyễn Hoài Nam là những minh chứng rất đẹp cho thấy sự hòa quyện đó nó có thể tạo ra những giá trị tốt đẹp.

Việc lắng nghe và thấu hiểu câu chuyện, nó lại quan trọng đến thế trong ngành y, một lĩnh vực mà mình vẫn hay mặc định là rất khô, rất dựa vào bằng chứng khoa học.

Liệu là trong rất nhiều lĩnh vực khác của cuộc sống, chúng ta đang vô tình đánh giá thấp hoặc là bỏ qua cái mà mình vừa gọi là năng lực tương tự này không? Điều này rất đáng suy ngậm. Có phải là ngay trong những cuộc nói chuyện hàng ngày của chính chúng ta, với gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, cũng đang bỏ lỡ những điều gì đó? Có phải chúng ta chưa thực sự lắng nghe, chưa thực sự hiểu hết những câu chuyện quan trọng mà họ đang muốn chia sẻ, hoặc đôi khi là không nói ra thành lời? Và quan trọng nhất chúng ta đều cần rèn luyện thêm khả năng lắng nghe và thấu hiểu câu chuyện của người khác trong mọi khía cạnh của cuộc sống.

Hãy đưa văn chương vào với y khoa để có được mọi lợi ích của nó mang lại cho sự nghiệp khám và cứu chữa bệnh nhân. Để có sự đồng cảm giữa con người


Nhà văn PGS.TS.BS Nguyễn Hoài Nam
Ý kiến của bạn