Mai mực: giảm đau, cầm máu

SKĐS - Ô tặc cốt là vị thuốc trong y học cổ truyền từ mai con mực. Sau khi bắt mực về, mổ lấy thịt, giữ lại mai, rửa sạch chất muối, bỏ vỏ cứng, phơi khô, xay thành bột mịn.

Ô tặc cốt là vị thuốc trong y học cổ truyền từ mai con mực. Sau khi bắt mực về, mổ lấy thịt, giữ lại mai, rửa sạch chất muối, bỏ vỏ cứng, phơi khô, xay thành bột mịn. Dược liệu ô tặc cốt vị mặn, chát, tính ấm, không độc vào 2 kinh can và thận. Có tác dụng giảm đau, thông huyết mạch, khử hàn thấp. Dùng chữa thổ huyết, bệnh đường tiêu hóa, đại trường hạ huyết, phụ nữ băng huyết, xích bạch đới, kinh bế… Dùng ngoài rắc lên vết thương để cầm máu, sát khuẩn, chống viêm.

Trị ho ra máu: ô tặc cốt 20g, cỏ nhọ nồi 30g, cỏ tháp bút 100g. Cỏ nhọ nồi sao cháy cùng cỏ tháp bút sắc lấy 250ml nước. Cho ô tặc cốt vào nước thuốc, quấy đều chia 3 phần uống trong ngày.

Trị xuất huyết đường tiêu hóa: ô tặc cốt, bạch cập (xay thành bột mịn). Hai vị trộn đều. Ngày uống 2 lần với nước sôi, mỗi lần 4-6g. Uống trong 7-10 ngày là một liệu trình. Nghỉ vài ngày lại uống tiếp 1 liệu trình mới.

Trị hen suyễn: mai mực rửa sạch, nướng vàng, tán bột mịn. Người lớn uống 8g, chia 2 lần. Trẻ em ngày uống 2 lần, mỗi lần 2g.

Trị loét dạ dày - hành tá tràng: ô tặc cốt hòa nước đường uống, ngày 2 - 3 lần, mỗi lần 3g.

Trẻ em chậm lớn: ô tặc cốt ngày uống 2 lần, mỗi lần 2-4g. Dùng 7 - 10 ngày là 1 liệu trình,  nghỉ vài ngày, sau lại dùng tiếp 1 liệu trình mới nếu cần thiết.

Trị viêm dạ dày, tá tràng, ợ chua, đại tiện táo: ô tặc cốt 20g, cam thảo 12g, thổ bối mẫu 6g, tán nhỏ, rây bột mịn trộn đều. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 6g trước bữa ăn.

Trị đại tiện ra máu: ô tặc cốt 30g, cỏ tháp bút 100g. Cỏ tháp bút sắc lấy 150ml nước, bỏ bã, cho ô tặc cốt vào quấy đều, chia 2 lần uống trong ngày, uống liền 5 - 7 ngày.

Hoặc: ô tặc cốt 4 - 6g hòa với nước cháo đặc, ngày uống 2 lần. 7 - 10 ngày là 1 liệu trình, cần dùng 2 - 3 liệu trình.

Trị băng huyết: ô tặc cốt 10g, sinh địa 30g. Sinh địa sắc lấy 200ml nước thuốc đặc. Cho ô tặc cốt vào nước thuốc quấy đều chia 3 lần uống trong ngày, cần uống liền 3 - 5 ngày.

Trị bạch đới: ô tặc cốt 18g, bối mẫu (sấy khô, tán bột) 6g. Trộn đều 2 vị, chia 3 lần uống trong ngày với nước nóng.

Thuốc dùng ngoài:

Trị vết thương lở loét: nước chè xanh đặc rửa sạch vết thương, sau đó lấy ô tặc cốt rắc vào chỗ đau; ngày làm 2 lần, làm liên tục cho đến khi khỏi.

Trị trĩ ngoại: ô tặc cốt 50g, dầu vừng 30ml. Ô tặc cốt cho vào dầu vừng quấy đều, bôi vào chỗ trĩ lòi ra, ngày 2-3 lần (vệ sinh sạch búi trĩ mới bôi thuốc).


DS. Đặng Văn Nam
Ý kiến của bạn
Tags: