DÒNG SỰ KIỆN

Đường dây nóng:

1900 90 95 duongdaynongyte@gmail.com
0901727659 bandientuskds@gmail.com
Mã tiền - Vị thuốc quý nhưng rất độc
TS. Nguyễn Đức Quang - 16:52 20/06/2018 GMT+7
Suckhoedoisong.vn - Mã tiền là hạt quả đã chín già phơi khô của cây mã tiền (Strychnos nuxvomica L.), thuộc họ Mã tiền (Loganiaceae).

Mã tiền là hạt quả đã chín già phơi khô của cây mã tiền (Strychnos nuxvomica L.), thuộc họ Mã tiền (Loganiaceae). Mã tiền chứa dầu béo, glycosid (loganosid), acid loganic, stigmasterin, cyloartenol và nhiều alcaloid: strychnin, brucin, vomicin, cloubrin, psedostrychnin, loganin…

Theo Đông y, mã tiền vị đắng, tính hàn, rất độc; vào kinh can và tỳ. Có tác dụng thông lạc chỉ thống, tiêu thũng tán kết. Dùng trừ phong thấp tý, ung thư sang độc, tổn thương sưng đau; co rút tê dại, liệt. Liều dùng và cách dùng: 0,1 - 0,8g. Dược liệu đã qua chế biến. Chú ý: Để tránh ngộ độc, khi uống các thành phẩm có mã tiền phải uống ở liều thấp nhất đến liều sử dụng cho phép.

Một số bài thuốc có mã tiền:

Hoạt lạc, giảm đau: trị phong thấp, đau khớp hoặc khớp biến dạng.

Bài 1: bột mã tiền chế 50g, bột hương phụ tứ chế 13g, bột mộc hương 8g, bột địa liền 6g, bột thương truật 20g, bột quế chi 3g, tá dược vừa đủ 1.000 viên. Ngày uống 4 viên, tối đa 6-8 viên. Mỗi đợt uống 50 viên thì nghỉ. Chữa tê thấp, đau nhức xương khớp.

Bài 2: hạt mã tiền chế 380g, xuyên ô chế 380g, thảo ô chế 380g, khương hoạt 380g, ngưu tất 335g, ma hoàng 335g, độc hoạt 380g, phụ tử chế 70g, đương  quy 335g, mộc qua 335g, nhũ hương 155g, một dược 155g. Nghiền chung thành bột mịn, lấy quế chi 125g, sắc lấy nước đặc, làm thành hoàn bằng hạt đậu xanh. Trước khi đi ngủ, uống 4g với nước đun sôi còn nóng. Trị đau nhức khớp lâu ngày không khỏi và cả khớp biến dạng.

Hạt mã tiền là thuốc quý trị phong thấp, tê bại chân tay, cắt cơn động kinh,… Tuy nhiên mã tiền rất độc, khi uống phải qua chế biến và dùng từ liều thấp nhất.

Cường cân khởi nuy (bền gân, khỏi mềm nhũn): trị tê bại cơ, gân, chân tay yếu mềm nhũn.

Bài 1: hạt mã tiền 63g, tỳ giải 63g, ngưu tất 63g, thịt rắn đen 63g, tục đoạn 63g, rết 63g, dâm dương hoắc 63g, đương quy 63g, nhục thung dung 63g, cẩu  tích 63g, mai mực 63g, mộc qua 63g, thỏ ty tử 80g, tằm vôi 125g. Bỏ riêng dâm dương hoắc sắc lấy nước để làm hoàn, các vị khác nghiền chung thành bột. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 0,8 - 1,5g (người yếu mệt giảm liều), uống với nước sôi còn ấm. Trị di chứng của trẻ em tê bại.

Bài 2: Hoàn trị tê liệt (triệt thán hoàn): hạt mã tiền chế 30g, xuyên khung 63g, xích thược 63g, đỗ trọng 63g, xương bồ 63g, đại hoàng 63g, hồng hoa 63g, quy vĩ 63g, huyết kiệt 63g, nhân hạt đà 63g, nhũ hương 63g, một dược 63g, ngưu tất 63g, manh trùng 8g, thổ miết trùng 20g, hài nhi trà 20g, ma hoàng 20g, bạch giới tử 20g, trầm hương 12g. Nghiền chung thành bột mịn, luyện với mật, làm thành hoàn 8g. Mỗi lần uống 1/3 hoàn, sau đó tăng lên tới 1/2 cho đến 2 hoàn. Ngày uống 2 lần, uống với nước đun sôi. Nếu thấy có phản ứng rõ rệt thì thôi không uống tăng liều nữa. Tác dụng: Trị bị tê liệt, tê liệt do chấn thương.

Trừ phong, cắt cơn động kinh:

Bài thuốc: hạt mã tiền (bỏ lông ngoài) 32g, dầu vừng 1.000g, giun đất sấy khô 8 con (nghiền thành bột). Cho dầu vừng vào chảo đun sôi, thả hạt mã tiền vào, rán đến khi có màu đỏ tía, lấy ra, nghiền thành bột. Trộn với bột giun đất, lấy bột mì làm hồ, hoàn bằng hạt cải. Mỗi lần uống 0,35 - 1g (trẻ em giảm bớt liều), uống lúc sắp đi ngủ với nước muối. Trị chứng điên giản co rút, lên cơn nhiều lần không khỏi.

Tan ứ, tiêu thũng: trị sưng nhọt độc, ung nhọt và thương tích do bị đánh, ngã…

Bài 1: Hạt mã tiền chế, thanh mộc hương, sơn đậu căn, liều lượng như nhau. Nghiền thành bột. Thổi vào họng. Trị họng sưng đau.

Bài 2: Hạt mã tiền, chỉ xác, liều lượng như nhau. Hạt mã tiền ngâm trong nước tiểu 49 ngày, vớt ra, cạo bỏ lông, thái lát, sao với đất vàng đến tồn tính. Chỉ xác ngâm trong nước tiểu 49 ngày, vớt ra, phơi khô, thái lát, sao tồn tính với đất vàng. Tất cả nghiền thành bột, trộn đều. Người lớn mỗi lần uống 1,2 - 2g, uống với đường đỏ và rượu trắng (thay đổi nhau). Trị chấn thương sưng tụ do bị ngã, bị đánh. Trị vết thương do dao, búa chém và bỏng lửa: trộn với ít rượu đắp lên chỗ bỏng lửa, lấy bột thuốc rắc lên vết chém do dao, búa.

Kiêng kỵ: Người mất ngủ và di tinh cấm uống. Hạt mã tiền rất độc, nếu dùng theo đường uống phải qua chế biến và bào chế. Sau khi uống phải tránh gió. Nếu thấy ngộ độc (giật giật ở môi và các cơ; nặng hơn thấy ngáp, nước dãi chảy nhiều, nôn mửa, sợ ánh sáng, mạch nhanh và yếu…), có thể lấy nhục quế 8g sắc uống để giải độc.

TS. Nguyễn Đức Quang

Tin chân bài
Ðại hoàng - Thuốc tả hỏa thanh nhiệt, hoạt huyết
SKĐS - Theo Đông y, đại hoàng vị đắng, tính hàn; vào kinh: tỳ, vị, đại tràng, tâm bào và can. Có tác dụng tả hạ công tích, tả hỏa thanh nhiệt, hoạt huyết hóa ứ, lợi thủy thanh thấp nhiệt.
Dược thiện cho chị em sau sinh
SKĐS - Chị em sau khi vừa trải qua cuộc “vượt cạn” đầy vất vả, khí huyết hư nhược, tinh thần mệt mỏi, sức khỏe yếu… Làm thế nào để các bà mẹ sau sinh nhanh chóng phục hồi sức khỏe, có điều kiện nuôi con tốt là hết sức cần thiết. Sau đây là một số món ăn thuốc bổ dưỡng rất tốt cho sản phụ sau sinh.
Dược thiện phòng chống đau mắt đỏ
SKĐS - Trong y học cổ truyền, đau mắt đỏ (viêm kết mạc cấp tính) là một bệnh thường gặp do dịch độc, nhiệt độc của thời tiết xâm nhập vào mắt gây nên.
Thuốc từ củ điền thất
SKĐS - Theo y học cổ truyền, củ điền thất có vị đắng, hơi the, tính bình; có tác dụng bổ huyết, làm tan máu ứ, thông kinh bế và tiêu sưng viêm; điều hòa kinh nguyệt, giúp tiêu hoá, nhuận tràng, lợi mật…
Những thực phẩm giúp phòng tránh bệnh mạch vành
SKĐS - Những loại thực phẩm, món ăn dưới đây sẽ giúp phòng ngừa bệnh lý mạch vành, giúp trái tim khỏe mạnh.
4 tác dụng không không ngờ của rau đay
Rau đay là loại rau quen thuộc trong bữa cơm người Việt. Nhưng không chỉ là món thực phẩm bổ dưỡng, trong rau đay còn chứa đựng những công dụng hết sức quý báu.
Trám trắng chữa bệnh
SKĐS - Theo Đông y, trám trắng có vị ngọt, chua, tính bình; vào kinh phế vị có tác dụng thanh nhiệt sinh tân, giải độc.
Những vị thuốc hay từ cây quýt
SKĐS - Mọi bộ phận của cây quýt đều có thể dùng làm thuốc chữa bệnh, bồi bổ sức khỏe; quả đóng hộp, làm mứt, vỏ sấy khô chưng cất thành tinh dầu...
Tin liên quan
CHUYÊN ĐỀ
Bình luận
TIN CÙNG CHUYÊN MỤC
Xem thêm