Mã định danh sản phẩm, hàng hóa giúp truy xuất nguồn gốc bảo vệ người tiêu dùng

Chính sách
SKĐS - Từ 1/1/2027 sản phẩm hàng hóa sẽ có mã định danh, giúp xác thực sản phẩm hàng hóa, truy xuất nguồn gốc bảo vệ người tiêu dùng.

Theo Nghị định 372/2026/NĐ-CP, từ 1/1/2027, sản phẩm hàng hóa sẽ được xác thực và truy xuất nguồn gốc qua hoạt động định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm trên môi trường số thông qua Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa. Đây là cơ sở giúp người tiêu dùng xác thực được nguồn gốc và truy vết sản phẩm, giúp minh bạch thị trường hàng hóa bảo vệ người tiêu dùng chống hàng giả, hàng kém chất lượng.

Mã định danh sản phẩm, hàng hóa giúp truy xuất nguồn gốc bảo vệ người tiêu dùng- Ảnh 1.

Từ 1/1/2027 sản phẩm hàng hóa sẽ có mã định danh, giúp xác thực sản phẩm hàng hóa, truy xuất nguồn gốc bảo vệ người tiêu dùng (ảnh: AI).

Mã định danh sản phẩm, hàng hóa

1. Mã định danh sản phẩm, hàng hóa (sau đây gọi là mã UID) là đường dẫn (digital link) phù hợp tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn GS1 quốc tế được tạo lập tự động trên Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa, có khả năng định danh và truy xuất đến từng đơn vị hoặc lô, mẻ, loại sản phẩm, hàng hóa.

Mã UID được thể hiện thông qua vật mang dữ liệu phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam và tương thích với tiêu chuẩn quốc tế, bảo đảm khả năng nhận diện, thu thập, chia sẻ và xác minh thông tin trong môi trường số và trong chuỗi cung ứng, không thay thế mã GTIN, mã số địa điểm toàn cầu (GLN), mã truy vết sản phẩm, mã truy vết địa điểm đã được cấp, sử dụng hợp pháp theo quy định của pháp luật về mã số, mã vạch và truy xuất nguồn gốc.

2. Việc tạo lập, quản lý và sử dụng mã UID phải tuân thủ nguyên tắc, tiêu chuẩn, cấu trúc và yêu cầu kỹ thuật quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này.

3. Mã UID phải được liên kết tự động với mã định danh phi tập trung (DID) của chủ thể theo quy định tại Điều 6 Nghị định này, khóa bí mật, khóa công khai và chữ ký điện tử chuyên dùng tại Điều 7 Nghị định này và với chứng chỉ số, bằng chứng số theo quy định tại Điều 8 Nghị định này, bảo đảm khả năng xác thực và truy vết độc lập.

4. Mỗi mã UID chỉ được gắn với một sản phẩm, hàng hóa hoặc một lô/mẻ sản phẩm, hàng hóa cụ thể và liên kết với một bản ghi dữ liệu chủ duy nhất trên Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa. Tên sản phẩm, hàng hóa trong dữ liệu chủ là tên do tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu tự đặt và ghi nhãn theo quy định của pháp luật về nhãn hàng hóa; tổ chức, cá nhân được kê khai bổ sung nhãn hiệu và các tên gọi khác của cùng một sản phẩm, hàng hóa trong dữ liệu chủ để phục vụ tra cứu, đối chiếu. Dữ liệu chủ về sản phẩm, hàng hóa được chuẩn hóa theo mã, tên nhóm, ngành sản phẩm theo Hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam và mã số hàng hóa theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam. Việc ghi tên hàng hóa trên hóa đơn, chứng từ thực hiện theo quy định của pháp luật về hóa đơn, chứng từ; mã UID được sử dụng để đối chiếu tên hàng hóa với dữ liệu chủ đã được xác thực trên Nền tảng quốc gia.

Định danh sản phẩm, hàng hóa

1. Định danh sản phẩm, hàng hóa là việc tạo lập và gắn mã UID cho từng đơn vị sản phẩm, hàng hóa hoặc theo lô, mẻ sản xuất, kinh doanh sản phẩm, hàng hóa trên Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa nhằm nhận diện, xác thực và phục vụ truy xuất nguồn gốc trong toàn bộ vòng đời của sản phẩm, hàng hóa.

Mỗi đơn vị hoặc lô/mẻ sản phẩm, hàng hóa đồng thời được gắn 01 mã DID duy nhất khi khởi tạo mã UID và lưu tại Nền tảng chuỗi khối quốc gia để phục vụ việc định danh, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa thông qua chứng chỉ số, bằng chứng số. Mã UID của sản phẩm, hàng hóa được liên kết tự động với mã DID của tổ chức, cá nhân tạo lập dữ liệu chủ và được ghi nhận trên Nền tảng chuỗi khối quốc gia để phục vụ định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc thông qua chứng chỉ số, bằng chứng số; không yêu cầu gắn thêm mã DID hoặc vật mang dữ liệu DID trên sản phẩm, hàng hóa.

2. Mã UID được tạo lập tự động trên Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa trên cơ sở mã GTIN và dữ liệu chủ do tổ chức, cá nhân tạo lập trong các trường hợp sau:

a) Sau khi tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu tạo lập lần đầu dữ liệu chủ của sản phẩm, hàng hóa trên Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa;

b) Sau khi dữ liệu chủ về sản phẩm, hàng hóa được kết nối, đồng bộ từ Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, hệ thống truy xuất nguồn gốc, hệ thống thông tin, nền tảng số khác của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp vào Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa;

c) Trường hợp khác theo yêu cầu quản lý nhà nước.

3. Trường hợp sản phẩm, hàng hóa đã có mã số sản phẩm toàn cầu (Global Trade Item Number, sau đây gọi là GTIN), mã GTIN được sử dụng làm thành phần căn cứ định danh trong cấu trúc mã UID trên Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa; trường hợp cần thiết có thể bổ sung các thành phần dữ liệu khác theo cấu trúc mã UID để phục vụ yêu cầu quản lý, xác thực và truy xuất nguồn gốc.

Trường hợp sản phẩm, hàng hóa chưa có mã GTIN, tổ chức, cá nhân thực hiện đăng ký quyền sử dụng mã số, mã vạch để được cấp mã GTIN theo quy định tại Điều 29, Điều 30 và Điều 31 Nghị định số 37/2026/NĐ-CP trước khi tạo lập mã UID. Mā GTIN đã được cấp được kết nối, đối chiếu và liên thông tự động với Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa theo quy định tại khoản 4, 5 Điều 32 Nghị định này; tổ chức, cá nhân không phải thực hiện lại thủ tục hoặc khai báo lại dữ liệu đã được cấp, xác thực hợp lệ.

4. Tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin để tạo lập dữ liệu chủ và sử dụng mã UID đúng mục đích; bảo đảm tính toàn vẹn của vật mang dữ liệu và cập nhật thông tin khi có thay đổi theo quy định của Nghị định này.

5. Việc tạo lập tự động mã UID để định danh sản phẩm, hàng hóa thông qua Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa được miễn phí theo quy định tại Nghị định này.

Xác thực sản phẩm, hàng hóa

1. Xác thực sản phẩm, hàng hóa là xác thực chủ thể ghi nhận dữ liệu về sản phẩm, hàng hóa và kiểm tra tính đúng đắn, toàn vẹn của dữ liệu về sản phẩm, hàng hóa tại thời điểm xác thực so với thời điểm được ghi nhận lên Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực, truy xuất nguồn gốc sản phẩm hàng hóa. Việc xác thực sản phẩm, hàng hóa bao gồm:

a) Xác thực dữ liệu chủ định danh sản phẩm, hàng hóa;

b) Xác thực dữ liệu trong các công đoạn truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa;

c) Xác thực dữ liệu về các chứng nhận chất lượng sản phẩm, hàng hóa; giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa; chứng nhận hợp quy, hợp chuẩn và các giấy tờ khác gắn với sản phẩm, hàng hóa đã được khởi tạo chứng chỉ số;

d) Xác thực các dữ liệu khác liên quan đến sản phẩm, hàng hóa.

2. Trung tâm Sáng tạo, khai thác dữ liệu thuộc Trung tâm dữ liệu quốc gia được cung cấp dịch vụ xác thực điện tử đối với sản phẩm, hàng hóa thông qua Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa, không phải thực hiện thủ tục đăng ký cung cấp dịch vụ xác thực điện tử theo quy định pháp luật về định danh và xác thực điện tử.

3. Dịch vụ xác thực sản phẩm, hàng hóa được thực hiện thông qua hệ thống xác thực sản phẩm, hàng hóa thuộc Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa. Việc thực hiện xác thực dữ liệu trong các công đoạn truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa, xác thực các dữ liệu về các chứng nhận chất lượng sản phẩm, hàng hóa; giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa; chứng nhận hợp quy, hợp chuẩn và các giấy tờ khác gắn với sản phẩm, hàng hóa đã được khởi tạo chứng chỉ số và các dữ liệu khác liên quan đến sản phẩm, hàng hóa thực hiện theo cơ chế thu giá dịch vụ theo quy định của pháp luật về giá và xác thực điện tử.

4. Kết quả xác thực sản phẩm, hàng hóa theo quy định tại Điều này xác nhận tính đúng đắn, toàn vẹn của dữ liệu và tính hợp lệ của chứng chỉ số, bằng chứng số gắn với sản phẩm, hàng hóa tại thời điểm xác thực. Kết quả xác thực không thay thế hoạt động đánh giá sự phù hợp, kiểm tra nhà nước về chất lượng, giám định, thanh tra, kiểm tra và không thay thế quyết định, kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về chất lượng, an toàn, xuất xứ, điều kiện lưu thông của sản phẩm, hàng hóa theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

Trách nhiệm về tính chính xác, tính hợp pháp của nội dung dữ liệu được xác thực thuộc về bên phát hành chứng chỉ số theo quy định tại khoản 2 và khoản 7 Điều 8 Nghị định này.

Truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa

1. Hoạt động truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa theo Điều này được thực hiện trên môi trường số thông qua mã UID trên Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa. Nội dung, yêu cầu nghiệp vụ truy xuất nguồn gốc không được quy định tại Nghị định này thực hiện theo Nghị định số 37/2026/NĐ-CP và quy định pháp luật chuyên ngành có liên quan.

2. Việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa phải được ghi nhận thông qua việc khởi tạo các chứng chỉ số quy định tại khoản 4 Điều 8 Nghị định này qua mã UID nhằm đảm bảo tính toàn vẹn, khả năng xác minh và truy vết độc lập. Việc ghi nhận thông qua khởi tạo chứng chỉ số được thực hiện đối với các sự kiện trọng yếu trong quá trình sản xuất, nhập khẩu, xuất khẩu, lưu thông, tiêu dùng (bao gồm việc xuất hóa đơn, ghi nhận thời điểm cơ quan hải quan quyết định thông quan đối với hàng hóa theo quy định của pháp luật về thuế, hải quan và hình thức quản lý khác theo quy định của pháp luật). 

Tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm đối với sự kiện trọng yếu trong chuỗi cung ứng được xác định theo khoản này có trách nhiệm bảo đảm việc khởi tạo chứng chỉ số tương ứng với công đoạn đó thông qua mã UID của sản phẩm, hàng hóa, trừ trường hợp dữ liệu xác nhận kết thúc công đoạn đã được đồng bộ về Cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm, hàng hóa. Trường hợp việc khởi tạo chứng chỉ số được thực hiện bởi bên cung cấp dịch vụ thì phải có thỏa thuận xác định rõ chủ thể thực hiện, phạm vi thực hiện, trách nhiệm bảo đảm tính chính xác, đầy đủ của dữ liệu và trách nhiệm pháp lý của các bên theo quy định của pháp luật.

3. Bộ quản lý ngành, lĩnh vực có trách nhiệm hướng dẫn và thực hiện chức năng quản lý nhà nước về truy xuất nguồn gốc theo Nghị định 37 đối với từng đối tượng và ngành hàng cụ thể; quy định cụ thể các sự kiện trọng yếu phải thực hiện việc khởi tạo chứng chỉ số trong quá trình truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao phù hợp với đặc thù từng nhóm sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý, bảo đảm không làm phát sinh thủ tục, nghĩa vụ kê khai nhiều lần với tổ chức, cá nhân, bảo đảm khả năng kết nối, chia sė, khai thác dữ liệu sẵn có trong hệ thống thông tin của cơ quan nhà nước, việc đồng bộ, liên thông dữ liệu với Cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm, hàng hóa. Trường hợp chuỗi cung ứng của sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý của từ hai bộ, cơ quan ngang bộ trở lên thì bộ, cơ quan ngang bộ quản lý sản phẩm, hàng hóa đó là cơ quan chủ trì, phối hợp với bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan để quy định và ban hành danh mục, sự kiện trọng yếu phải thực hiện việc khởi tạo chứng chỉ số và truy xuất nguồn gốc.

Nội dung dữ liệu tối thiểu phải ghi nhận tại mỗi công đoạn bao gồm:

a) Đối tượng sản phẩm, hàng hóa được ghi nhận, xác định bằng mã định danh duy nhất (mã UID) theo quy định;

b) Loại sự kiện phát sinh tại từng công đoạn trong quá trình truy xuất nguồn gốc, bao gồm: sự kiện ghi nhận trạng thái của sản phẩm, hàng hóa; sự kiện đóng gói, tách lô, hợp nhất hoặc phân tách sản phẩm, hàng hóa; sự kiện liên kết sản phẩm, hàng hóa với giao dịch thương mại cụ thể; sự kiện chuyển đổi, chế biến nguyên liệu thành hàng hóa; sự kiện thiết lập quan hệ định danh giữa sản phẩm, hàng hóa với các đối tượng liên quan được định danh điện tử.

Trung tâm dữ liệu quốc gia hướng dẫn về cấu trúc dữ liệu, chuẩn kỹ thuật và định dạng trao đổi dữ liệu áp dụng cho từng loại sự kiện tại điểm này, bảo đảm khả năng liên thông, tích hợp với Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa;

c) Thời điểm xảy ra sự kiện;

d) Địa điểm xảy ra sự kiện, bao gồm địa điểm thực tế phát sinh sự kiện và địa điểm được xác định theo quy định của pháp luật chuyên ngành, quy trình nghiệp vụ có liên quan trong trường hợp các địa điểm này được xác định theo các phương thức khác nhau;

đ) Công đoạn nghiệp vụ và trạng thái của sản phẩm, hàng hóa tại thời điểm ghi nhận;

e) Chủ thể thực hiện ghi nhận và chủ thể tiếp nhận trong trường hợp có sự chuyển giao quyền sở hữu, quyền kiểm soát hoặc trách nhiệm đối với sản phẩm, hàng hóa;

g) Các điều kiện, thông số kỹ thuật có liên quan trong trường hợp pháp luật chuyên ngành có yêu cầu.

4. Dữ liệu truy xuất nguồn gốc của từng sản phẩm, hàng hóa trong Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa và hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa phải bao gồm các thông tin tối thiểu theo quy định tại khoản 5 Điều 23 Nghị định 37/2026/NĐ-СР.

5. Các chứng nhận chất lượng sản phẩm, hàng hoá; giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá; chứng nhận hợp quy, hợp chuẩn và các giấy tờ khác gắn với sản phẩm, hàng hoá có mức độ rủi ro cao trong quá trình truy xuất nguồn gốc được số hóa, xác thực, kết nối, đồng bộ với Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hoá theo lộ trình, tiêu chuẩn dữ liệu và yêu cầu quản lý do cơ quan có thẩm quyền quy định. Các giấy tờ, chứng nhận quy định tại khoản này gắn với sản phẩm, hàng hoá có mức độ rủi ro trung bình và mức độ rủi ro thấp được khuyến khích số hoá, xác thực, kết nối, đồng bộ với Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn nguồn gốc g sản phẩm, hàng hoá phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước chuyên ngành.

Việc khởi tạo chứng chỉ số tương ứng đối với các giấy tờ, chứng nhận quy định tại khoản này được thực hiện khi hệ thống cấp chứng nhận, cơ quan cấp chứng nhận, tổ chức đánh giá sự phù hợp, tổ chức chứng nhận đáp ứng điều kiện kỹ thuật kết nối, chia sẻ dữ liệu với Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền.

6. Bộ quản lý ngành, lĩnh vực có trách nhiệm tổ chức khởi tạo hoặc chỉ đạo, yêu cầu và bảo đảm các tổ chức, đơn vị có thẩm quyền cấp các chứng nhận chất lượng sản phẩm, hàng hoá; giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá; chứng nhận hợp quy, hợp chuẩn và các giấy tờ khác gắn với sản phẩm, hàng hóa thực hiện việc khởi tạo các chứng chỉ số tương ứng và đảm bảo kết nối, liên thông dữ liệu với Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa; tổng hợp, ban hành danh mục các loại giấy tờ, chứng nhận gắn với sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý phải thực hiện khởi tạo chứng chỉ số và lộ trình thực hiện, đồng thời cập nhật, điều chỉnh danh mục này khi có thay đổi theo quy định của pháp luật.

Các chứng chỉ số về chứng nhận chất lượng sản phẩm, hàng hóa; chứng nhận xuất xứ hàng hóa; chứng nhận hợp quy, hợp chuẩn và các giấy tờ khác gắn với sản phẩm, hàng hóa đã được khởi tạo trên Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa có giá trị sử dụng như bản chính.

Nghị định 372/2026/NĐ-CP

Mã định danh sản phẩm, hàng hóa giúp truy xuất nguồn gốc bảo vệ người tiêu dùng- Ảnh 2.Nghỉ thai sản được tính là thời gian công tác để xét tặng danh hiệu thi đua

SKĐS - Theo Luật Thi đua khen thưởng, từ 1/10/2026 thời gian nghỉ thai sản được tính là thời gian công tác để xét tặng danh hiệu thi đua.



Ý kiến của bạn