Lưu ý khi dùng thuốc trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là bệnh có tỷ lệ mắc cao và xu hướng ngày càng gia tăng. Đặc biệt là vào mùa đông – xuân do thời tiết lạnh, ẩm, ô nhiễm không khí tăng...

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là bệnh có tỷ lệ mắc cao và xu hướng ngày càng gia tăng. Đặc biệt là vào mùa đông – xuân do thời tiết lạnh, ẩm, ô nhiễm không khí tăng... thì bệnh lại càng dễ bùng phát. Đây là một bệnh tiến triển nặng dần không hồi phục. Trên nền bệnh ổn định thì xen kẽ có những đợt bùng phát. Do bệnh không chữa dứt điểm được nên điều quan trọng là cần phải dự phòng và điều trị các đợt bùng phát của bệnh.

Khi bùng phát bệnh, phác đồ chung được áp dụng như sau:

Kháng sinh: dùng dạng uống hoặc tiêm tùy mức độ nặng của bệnh, tốt nhất dựa theo kết quả kháng sinh đồ, thường dùng kháng sinh nhóm cephalosporin kết hợp với gentamyxin một đợt kéo dài từ 10 - 14 ngày.

Cepalosporin là kháng sinh thuộc nhóm beta-lactam. Khi sử dụng cần lưu ý tới phản ứng quá mẫn và kháng kháng sinh. Một số cephalosporin có thể gây giảm prothrombin huyết như cefamandol, cefoperazon, cefotetan và moxalactam. Tuy nhiên, nếu được sử dụng đúng, các kháng sinh cephalosporin, (kể cả thuốc gây giảm prothrombin huyết) là các thuốc khá an toàn.

Gentamicin là một kháng sinh thuộc nhóm aminozid hoạt phổ rộng có tác dụng diệt khuẩn mạnh với phần lớn các vi khuẩn gram âm (-) và gram dương (+) kể cả tụ cầu khuẩn. Việc sử dụng gentamicin phải hết sức thận trọng do một số độc tính. Gentamicin tích lũy trên thận và có thể gây nhiễm độc thận tiềm tàng nếu dùng liều cao hoặc kéo dài. Ở người bị suy giảm chức năng thận thì nguy cơ bị nhiễm độc càng cao. Đặc biệt khi dùng phối hợp với cephalosporin thì nguy cơ này càng cao, do đó bệnh nhân cần được theo dõi chặt chẽ.

Gentamicin cũng có độc tính với thần kinh, đặc biệt là làm giảm thính lực, ù tai, điếc. Tác dụng độc với thính giác không hồi phục. Do đó, khi dùng gentamicin mà thấy có các dấu hiệu nói trên cần ngừng ngay thuốc và báo với bác sĩ để được chuyển sang dùng thuốc khác.

Thuốc giãn nở phế quản:

Dùng thuốc kháng cholinergic (atrovent, spiriva), dạng kết hợp với thuốc chủ vận ß2,  có thể dùng thuốc nhóm chủ vận ß2 (salbutamol, terbutalin...) và nhóm corticosteroid: khí dung, uống hoặc đường tiêm tùy theo mức độ bệnh. Thường dùng dạng phối hợp, tác dụng tại chỗ (berodual, combivent): có tác dụng tốt, nhanh, ít tác dụng phụ và tiện hơn. Có thể dùng dạng thuốc phối hợp khác dạng hít như symbicort, seretide ngày 2 lần mỗi lần xịt họng 2 nhát.

Thuốc điều biến nhầy, kháng ôxy hóa: dùng fluimucil, mucomyst, mucosolvant, acetylcystein dạng uống.

TS. Nguyễn Tiến

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐẶT CÂU HỎI & NHẬN TƯ VẤN MIỄN PHÍ TỪ CHUYÊN GIA
ĐỌC NHIỀU NHẤT