Dưới góc độ pháp lý, luật sư Nguyễn Văn Nam (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, những năm gần đây, mô hình "sở hữu kỳ nghỉ" (timeshare) ngày càng phổ biến trên thị trường du lịch, nghỉ dưỡng. Tuy nhiên, bên cạnh các giao dịch hợp pháp, không ít trường hợp đã lợi dụng hình thức này để đưa ra thông tin sai sự thật, dụ dỗ khách hàng ký kết hợp đồng nhằm chiếm đoạt tài sản.
Theo luật sư Nam, hiện pháp luật Việt Nam chưa có quy định hay khái niệm chính thức về "hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ". Trên thực tế, đây thường được hiểu là một dạng hợp đồng dịch vụ, theo đó khách hàng thanh toán một khoản tiền để được quyền sử dụng khách sạn, khu nghỉ dưỡng hoặc căn hộ du lịch trong một khoảng thời gian nhất định hằng năm.

Ảnh minh hoạ.
Dẫn chiếu Điều 513 Bộ luật Dân sự năm 2015, luật sư Nam cho biết hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, trong đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ thanh toán chi phí dịch vụ. Vì vậy, về bản chất, hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ là quan hệ cung ứng dịch vụ được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận giữa các bên.
"Pháp luật hiện hành không cấm việc kinh doanh hoặc chuyển nhượng các sản phẩm sở hữu kỳ nghỉ nếu hoạt động này được thực hiện đúng quy định. Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng khẳng định nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận trong xác lập và thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự, miễn không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội", luật sư Nam phân tích.
Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh dịch vụ lưu trú, du lịch hiện không thuộc danh mục ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh. Do đó, việc bán các sản phẩm sở hữu kỳ nghỉ về nguyên tắc là hoạt động hợp pháp. Tuy nhiên, doanh nghiệp và cá nhân tham gia giao dịch phải bảo đảm tính minh bạch, trung thực và thực hiện đúng các cam kết đã thỏa thuận trong hợp đồng.
Dù không bị pháp luật cấm, luật sư Nguyễn Văn Nam khuyến cáo người dân cần thận trọng trước khi ký kết hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ. Khách hàng nên tìm hiểu kỹ thông tin doanh nghiệp, quyền lợi được hưởng, thời hạn sử dụng, các khoản phí phát sinh, điều kiện chuyển nhượng, chấm dứt hợp đồng cũng như các cam kết liên quan để tránh rủi ro.
"Trường hợp phát hiện doanh nghiệp hoặc cá nhân sử dụng thông tin gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản, người bị hại có thể gửi đơn tố giác đến cơ quan công an để được xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật", luật sư Nam cho hay.
Về chế tài xử lý, luật sư Nguyễn Văn Nam cho biết, theo Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), người có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác thông qua việc ký kết, thực hiện hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Cụ thể, người phạm tội có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm nếu chiếm đoạt tài sản từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng thuộc các trường hợp luật định.
Trường hợp phạm tội có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc chiếm đoạt tài sản từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng, mức hình phạt có thể từ 2 năm đến 7 năm tù.
Nếu số tiền chiếm đoạt từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng hoặc lợi dụng thiên tai, dịch bệnh để thực hiện hành vi phạm tội, người vi phạm có thể đối mặt mức án từ 7 năm đến 15 năm tù.
Đối với trường hợp chiếm đoạt từ 500 triệu đồng trở lên hoặc lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, mức hình phạt cao nhất có thể lên tới từ 12 năm đến 20 năm tù hoặc tù chung thân.
Theo luật sư Nam, việc xác định hành vi có cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không sẽ phụ thuộc vào kết quả điều tra, làm rõ yếu tố gian dối, mục đích chiếm đoạt tài sản và các chứng cứ liên quan trong từng vụ việc cụ thể.
