Lựa chọn giải pháp nào?

Tin nóng y tế
Trong những năm qua, tình trạng sức khỏe bà mẹ và trẻ em của Việt Nam đã được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, trong những năm tiếp theo, công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) cũng còn rất nhiều khó khăn.

Trong những năm qua, tình trạng sức khỏe bà mẹ và trẻ em của Việt Nam đã được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, trong những năm tiếp theo, công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) cũng còn rất nhiều khó khăn. Để tìm hiểu về vấn đề này, phóng viên báo SK&ĐS đã có cuộc trao đổi với TS. Nguyễn Duy Khê - Vụ trưởng Vụ Sức khỏe bà mẹ - trẻ em (BMTE), Bộ Y tế.

PV: Thưa ông, trong năm 2010, công tác CSSKSS đã đạt được những thành tích nổi bật nào?

- Năm 2010 là năm cuối cùng thực hiện Chiến lược quốc gia về CSSKSS 2001-2010 và là năm cột mốc để xây dựng và triển khai Chiến lược dân số và SKSS Việt Nam 2011-2020, công tác CSSKSS đã đạt được nhiều thành tích rất đáng ghi nhận. Theo báo cáo của các trung tâm CSSKSS các tỉnh, thành phố, các chỉ số cơ bản về chăm sóc BMTE như tỷ lệ phụ nữ có thai được quản lý thai, số lần khám thai trung bình, tỷ lệ phụ nữ đẻ có cán bộ được đào tạo hỗ trợ, tỷ lệ bà mẹ được chăm sóc sau đẻ tại nhà đạt cao hơn so với cùng kỳ năm 2009. Tỷ lệ phụ nữ có thai được quản lý thai trong 5 năm gần đây đã có sự cải thiện đáng kể từ 84,6% năm 2006 đã tăng lên 95% năm 2010. Kể cả ở 2 vùng khó khăn nhất là Tây Bắc, Tây Nguyên thì tỷ lệ này đã đạt ở mức 88 - 89%. Số lần khám thai trung bình năm 2010 đã đạt 4 lần cho một phụ nữ đẻ so với năm 2009 là 3,3 lần. Tỷ lệ phụ nữ đẻ do cán bộ được đào tạo đỡ cũng liên tục tăng và đạt ở mức 95,7% năm 2010, như vậy trong nhiều năm liên tục, tỷ lệ phụ nữ đẻ do cán bộ được đào tạo đỡ luôn duy trì ở mức xấp xỉ hoặc trên 95%.Về chăm sóc sau sinh, năm 2010 đã đạt 92,8% tăng 3,4% với năm 2009. Nếu chỉ tính riêng tỷ lệ được chăm sóc trong tuần đầu sau sinh cũng đã đạt 81,9%. Về suy dinh dưỡng trẻ em, theo báo cáo của Viện Dinh dưỡng, tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) trẻ em dưới 5 tuổi thể cân nặng/tuổi năm 2010 đã giảm xuống còn 17,5%, vượt chỉ tiêu Quốc hội giao.

PV: Thưa ông, thách thức nào được cho là lớn nhất hiện nay?

- Thách thức lớn nhất là đầu tư ngân sách chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của nhân dân. Mặc dù đã có dự án mục tiêu quốc gia nhưng mới chỉ đáp ứng một phần và cũng mới chỉ có để đầu tư chủ yếu cho các tỉnh miền núi, tỉnh khó khăn.

Các thách thức khác phải kể đến là sự chênh lệch đáng kể về các chỉ số CSSKSS và sức khỏe BMTE như tỷ lệ đẻ do cán bộ y tế đỡ, tỷ lệ được chăm sóc sau sinh, tử vong mẹ, tử vong trẻ em, SDD trẻ em giữa các khu vực và giữa các vùng miền. Đặc biệt là ở các khu vực miền núi phía Bắc và vùng Tây Nguyên là những vùng điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn thì các chỉ số về sức khoẻ, dinh dưỡng của BMTE đạt được còn rất thấp so với các vùng miền khác. Tử vong sơ sinh vẫn còn cao, chiếm tới 70% tử vong trẻ em dưới 1 tuổi và 50% tử vong trẻ em dưới 5 tuổi.

Về tình hình SDD ở trẻ em, mặc dù đã có can thiệp ưu tiên nhưng mức giảm tỷ lệ SDD hằng năm ở những vùng khó khăn vẫn còn chậm và tỷ lệ trẻ bị SDD vẫn cao hơn so với các tỉnh thuộc khu vực đồng bằng và thành phố. Chúng ta cũng đang phải đối mặt với gánh nặng kép về dinh dưỡng: trong khi SDD trẻ em còn ở mức cao thì tình trạng thừa cân béo phì lại đang có xu hướng gia tăng.

Bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản/nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục còn khá phổ biến (ở nhiều vùng, tỷ lệ nhiễm khuẩn đường sinh sản ở  phụ nữ trong độ tuổi sinh sản tới 50-60%) trong khi đó việc khám phát hiện, dự phòng điều trị cũng như liên kết dịch vụ CSSKSS với phòng chống bệnh nhiễm khuẩn/bệnh lây truyền qua đường tình dục/HIV/AIDS còn chưa được quan tâm đúng mức.

Về ung thư đường sinh sản, đặc biệt là ung thu cổ tử cung, ung thu vú hiện chưa có số liệu điều tra quốc gia nhưng sơ bộ cho thấy hằng năm ở Việt Nam có khoảng 5.500 ca mắc mới ung thư cổ tử cung và 2.500 ca tử vong do căn bệnh này, trong khi việc sàng lọc và phát hiện sớm ung thư đường sinh sản (ung thư cổ tử cung, ung thư vú, ung thư tiền liệt tuyến) chưa được triển khai rộng rãi.

Bên cạnh đó, chất lượng cũng như mạng lưới CSSKSS ở các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa còn nhiều yếu kém. Ngoài điều kiện làm việc khó khăn thì đội ngũ cán bộ ở những nơi này còn thiếu về số lượng, trình độ chuyên môn lại hạn chế, nhất là ở tuyến huyện và xã.

PV: Chúng ta cần làm gì để khắc phục tình trạng trên, thưa ông?

Các chỉ số về sức khoẻ của Việt Nam được đánh giá là khá tốt so với nhiều quốc gia có cùng mức thu nhập quốc dân trên đầu người. Tỷ số chết mẹ và tỷ suất chết trẻ em đã giảm đáng kể. So với mục tiêu của Chiến lược quốc gia về Chăm sóc sức khỏe sinh sản thì chúng ta đã hoàn thành các chỉ tiêu về giảm chết mẹ, giảm chết trẻ em dưới 1 tuổi trước từ 1 đến 2 năm. Nếu được quan tâm đầu tư đúng mức thì Việt Nam hoàn toàn có khả năng đạt được các mục tiêu phát triển niên kỷ về giảm 3/4 tử vong mẹ và 2/3 tử vong trẻ em vào năm 2015 so với năm 1990.

- Trước hết cần tăng cường đầu tư, đảm bảo ngân sách cần thiết thông qua dự án mục tiêu quốc gia để có thể mở rộng diện bao phủ, mở rộng các hoạt động can thiệp nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu CSSKSS đa dạng của người dân.

Tăng cường hơn nữa quản lý nhà nước, nâng cao năng lực lãnh đạo quản lý: tiếp tục rà soát bổ sung, hoàn thiện hoặc xây dựng mới các văn bản quy phạm pháp luật, các hướng dẫn, quy trình chuyên môn kỹ thuật thuộc lĩnh vực CSSKSS đi đôi với tăng cường thanh, kiểm tra,  giám sát, giám sát hỗ trợ, đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ lãnh đạo, quản lý các tuyến. Chú trọng kiểm tra giám sát việc thực hiện quy chế chuyên môn, quy định phân tuyến kỹ thuật, Hướng dẫn quốc gia về cung cấp dịch vụ SKSS làm giảm các tai biến trong thủ thuật và dịch vụ CSSKSS. Thực hiện nghiêm chế độ báo cáo thống kê các chỉ tiêu về sức khoẻ sinh sản theo quy định. Tiếp tục hỗ trợ địa phương củng cố hệ thống thu thập thông tin và thống kê để đảm bảo báo cáo đúng thời gian, đủ thông tin và chính xác.

Tăng cường tiếp cận đi đôi với nâng cao chất lượng dịch vụ CSSKSS/SKBMTE. Củng cố, kiện toàn hệ thống CSSKSS từng bước phát triển về số lượng, nâng cao về chất lượng CSSKSS, đặc biệt chú trọng đến những vùng khó khăn. Mở rộng triển khai thực hiện các mô hình, loại hình can thiệp như: đội lưu động hỗ trợ điều trị cấp cứu cho tuyến dưới, chuyển tuyến dựa vào cộng đồng; dự phòng tích cực giai đoạn 3 chuyển dạ; thẩm định tử vong mẹ; đào tạo cô đỡ thôn bản hoặc cô đỡ thôn bản kết hợp với y tế thôn bản...

Tiếp tục thành lập các đơn nguyên sơ sinh ở các bệnh viện đa khoa tỉnh/thành phố và bệnh viện tuyến huyện cũng như triển khai các góc sơ sinh tại các trạm y tế xã theo tinh thần Chỉ thị 04/CT-BYT ngày 10/10/2003 của Bộ trưởng Bộ Y tế.

Đối với các tỉnh/huyện miền núi cần quan tâm củng cố các khoa sản/ngoại sản của các BV đa khoa tuyến huyện để có thể mổ đẻ và thực hiện cấp cứu sản khoa, nhi khoa nhằm giảm tử vong mẹ và tử vong trẻ sơ sinh.

Bố trí đủ cán bộ có chuyên môn về sản nhi như nữ hộ sinh, y sĩ sản nhi làm việc tại tuyến xã. Đối với các tỉnh và các vùng miền núi, tiếp tục tăng cường triển khai các loại hình đào tạo cô đỡ thôn bản hoặc đào tạo cán bộ y tế thôn bản về quản lý thai và đỡ đẻ sạch, đẻ an toàn bao gồm cả phát hiện và chuyển tuyến các trường hợp tai biến sản khoa và sơ sinh bệnh lý.

Với những giải pháp trên, công tác CSSKSS trong những năm tới sẽ cho những kết quả cao hơn nhiều so với năm 2010.

PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!

Ngọc Trâm
 (thực hiện)

Ý kiến của bạn