Viêm gan C là bệnh đồng nhiễm thường gặp ở người nhiễm HIV và người điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng methadone. Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, bệnh có thể tiến triển nhanh, làm tăng nguy cơ xơ gan, ung thư gan và ảnh hưởng đến tiên lượng của người bệnh.
Tại Hội nghị khoa học về Dự phòng viêm gan virus diễn ra ngày 23/7 do Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế) tổ chức tại Hà Nội, báo cáo về kết quả điều trị viêm gan C trên người nhiễm HIV và người điều trị methadone cho thấy, việc lồng ghép điều trị ngay tại các cơ sở điều trị HIV đã mang lại hiệu quả tích cực, đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ cho người bệnh ở nhiều địa phương.
Thông tin cho biết, trong giai đoạn 2020-2022, Dự án Quỹ Toàn cầu đã triển khai cung cấp dịch vụ điều trị viêm gan C tại 210 cơ sở điều trị ARV thuộc 38 tỉnh, thành phố dành cho người nhiễm HIV và người đang điều trị methadone. Trong đó, 176 cơ sở, tương đương 84%, là bệnh viện hoặc trung tâm y tế tuyến huyện; 32 cơ sở tuyến tỉnh và 2 bệnh viện tuyến trung ương. Ngoài ra, chương trình còn kết nối điều trị cho 18 trại giam tại 12 tỉnh, thành phố với gần 1.000 người bệnh.
Mô hình lồng ghép điều trị viêm gan C tại các cơ sở điều trị HIV giúp người bệnh được chẩn đoán, theo dõi và điều trị ngay tại tuyến cơ sở, góp phần nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ và đạt hiệu quả điều trị cao.
Kết quả cho thấy mô hình phân cấp điều trị xuống tuyến cơ sở hoàn toàn khả thi. Từ tháng 4/2021 đến tháng 8/2022, có 16.052 người bệnh được điều trị bằng thuốc kháng virus tác động trực tiếp (DAA), gồm 11.560 người nhiễm HIV và 4.492 người điều trị methadone. Đến ngày 30/6/2023, 98,7% người bệnh đã hoàn thành điều trị. Trong số những người được xét nghiệm tải lượng virus sau điều trị từ 12 tuần trở lên (SVR12), có 96,3% đạt đáp ứng virus bền vững, được xem là khỏi bệnh.
Đáng chú ý, tỷ lệ khỏi bệnh gần như không có sự khác biệt giữa các tuyến điều trị. Tỷ lệ đạt SVR12 tại tuyến trung ương là 98,9%, tuyến tỉnh 95,6% và tuyến huyện 96,3%. Theo nhóm nghiên cứu, kết quả này cho thấy việc phân cấp và lồng ghép điều trị viêm gan C tại các cơ sở điều trị ARV tuyến huyện vẫn bảo đảm chất lượng điều trị.
1. Lồng ghép điều trị giúp người bệnh tiếp cận dịch vụ thuận lợi hơn
Theo báo cáo, mô hình được xây dựng trên cơ sở lồng ghép chẩn đoán và điều trị viêm gan C ngay tại các phòng khám điều trị ARV, đồng thời phối hợp với cơ sở điều trị methadone trong sàng lọc, điều trị và theo dõi người bệnh. Mẫu bệnh phẩm được vận chuyển từ cơ sở điều trị đến phòng xét nghiệm tải lượng vi rút viêm gan C, giúp người bệnh không phải chuyển tuyến để điều trị.
Để triển khai mô hình, chương trình đã đào tạo nhân viên y tế về quản lý lâm sàng viêm gan C, xây dựng quy trình lựa chọn và quản lý người bệnh, thiết lập mạng lưới hỗ trợ kỹ thuật giữa tuyến trung ương, CDC các tỉnh và cơ sở điều trị. Việc theo dõi điều trị viêm gan C cũng được lồng ghép vào hệ thống quản lý người bệnh HIV hiện có, qua đó giúp giám sát tiến độ điều trị và kịp thời tháo gỡ các khó khăn phát sinh.
Báo cáo cũng cho thấy mô hình mang lại kết quả tích cực ở nhóm người bệnh xơ gan. Trong số 1.415 người bệnh xơ gan còn bù được điều trị, 718 người được đánh giá sau điều trị và 97,2% đạt SVR12. Đối với nhóm xơ gan mất bù, toàn bộ 13 trường hợp được xét nghiệm sau điều trị đều đạt đáp ứng vi rút bền vững. Đồng thời, không ghi nhận sự khác biệt về tỷ lệ khỏi bệnh giữa các tuyến điều trị đối với nhóm người bệnh này.
2. Cần tháo gỡ rào cản để nâng cao hiệu quả chương trình
Bên cạnh những kết quả tích cực, báo cáo cũng chỉ ra một số khó khăn trong quá trình triển khai. Một trong những vấn đề nổi bật là tỷ lệ người bệnh quay lại làm xét nghiệm tải lượng vi rút sau khi kết thúc điều trị còn thấp. Có tới 69,7% người bệnh đã hoàn thành điều trị trên 12 tuần nhưng chưa thực hiện xét nghiệm SVR12. Nguyên nhân chủ yếu là nhiều người cảm thấy sức khỏe đã ổn định nên không muốn dành thời gian hoặc chi phí để thực hiện xét nghiệm.
Ngoài ra, việc triển khai xét nghiệm tải lượng virus viêm gan C vẫn gặp khó khăn khi phần lớn cơ sở xét nghiệm tập trung ở tuyến tỉnh, trong khi khoảng 85% người bệnh được điều trị tại tuyến huyện. Một số người bệnh cũng từ chối làm xét nghiệm do phải đồng chi trả chi phí hoặc chưa được bảo hiểm y tế thanh toán đối với một số dịch vụ sàng lọc ban đầu.
Từ kết quả triển khai cho thấy, việc hỗ trợ kỹ thuật thường xuyên, theo dõi số liệu điều trị và tồn kho thuốc, cũng như sự phối hợp giữa Quỹ Toàn cầu, bảo hiểm y tế và các cơ sở điều trị ở tất cả các cấp, là những yếu tố quan trọng góp phần vào thành công của chương trình.
Việc lồng ghép điều trị viêm gan C vào các cơ sở điều trị HIV, đặc biệt tại tuyến huyện, không chỉ giúp mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ cho người bệnh mà còn vẫn bảo đảm chất lượng điều trị. Trong thời gian tới, việc tăng tỷ lệ người bệnh thực hiện xét nghiệm đánh giá sau điều trị, tháo gỡ những vướng mắc về xét nghiệm và chi phí sẽ là những nội dung cần tiếp tục được quan tâm nhằm nâng cao hiệu quả của mô hình.
Mời bạn xem thêm video:
Ba con đường lây nhiễm HIV/AIDS và các cách phòng tránh.

