Trồng dược liệu mang lại lợi ích kép cho người nông dân
Mô hình trồng dược liệu kết hợp tạo tín chỉ carbon là giải pháp canh tác đa tầng, mang lại lợi ích kép: vừa thu hoạch cây thuốc, vừa tạo ra chứng chỉ giảm phát thải carbon để thương mại hóa. Mô hình này đặc biệt phát triển ở các vùng đồi núi, đất lâm nghiệp như Tây Nguyên và các tỉnh miền Bắc.
Mô hình này mang lại nhiều lợi ích kép. Cây tầng thấp (cây dược liệu) có thể trồng các loại cây dưới tán rừng hoặc đất trống như Đinh lăng, Sâm Ngọc Linh, Quế, Hồi, hoặc Ba kích. Chu kỳ thu hoạch ngắn giúp tạo dòng tiền xoay vòng nhanh chóng cho doanh nghiệp/hộ nông dân.
Cây tầng là các loại cây bản địa hoặc cây đa mục đích (như mắc ca, điều, hoặc cây keo, cây mỡ) che bóng cho dược liệu, đồng thời phát triển sinh khối lớn để hấp thụ CO2. Cuối cùng là mục tiêu tạo tín chỉ Carbon. Lượng CO2 mà cây xanh hấp thụ được quy đổi thành tín chỉ Carbon và các chứng chỉ này có thể giao dịch trên thị trường carbon trong và ngoài nước.

Mô hình trồng dược liệu kết hợp tạo tín chỉ carbon là giải pháp canh tác đa tầng, mang lại lợi ích kép.
Yên Bái đã chọn xã Đại Đồng và xã Phú Thịnh (huyện Yên Bình) tham gia dự án thí điểm cấp tín chỉ carbon rừng, với sự hỗ trợ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Theo Hạt kiểm lâm Yên Bình, địa phương sẽ tuyên truyền về cách tiếp cận mới để người dân nắm được các quy định về tín chỉ carbon rừng. Sau đó, cơ quan chức năng sẽ phối hợp với các cấp, ngành triển khai đánh giá, tạo cơ sở để xác định chính xác lượng giảm phát thải, bảo đảm người dân được thụ hưởng khi tín chỉ carbon được cấp trong tương lai.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Yên Bái, đến nay tỉnh đã cơ bản hoàn thiện cơ sở dữ liệu về hiện trạng rừng trên toàn tỉnh. Tỉnh sẽ triển khai kiểm kê phát thải carbon nhằm mục đích sớm gia nhập thị trường tín chỉ carbon. Đồng thời tổ chức thực hiện nghiêm túc, giám sát chặt chẽ các hoạt động phát thải của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, nhất là trong các lĩnh vực có nguy cơ phát thải cao như: xi-măng, giấy, năng lượng… nhằm mục tiêu toàn bộ khí thải phải được kiểm kê.
Một yếu tố quan trọng để vận hành được thị trường carbon chính là sự tham gia chủ động của doanh nghiệp một cách tích cực, hiệu quả. Cơ quan, đơn vị liên quan chủ động giúp đỡ doanh nghiệp, chủ rừng trong việc kết nối, chủ động tìm hiểu thị trường, nguồn lực đầu tư và hạ tầng kỹ thuật để tham gia thị trường tín chỉ carbon phù hợp, phát triển bền vững với diện tích rừng hiện có. Ngoài ra, cần có cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng, minh bạch cho cộng đồng địa phương, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số.
Ngoài việc sử dụng rừng để phát triển sinh thái, trồng dược liệu, Gia Lai định hướng phát triển thị trường bán tín chỉ carbon. Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Gia Lai cho biết hiện đã xây dựng đề cương Đề án thí điểm kinh doanh tín chỉ carbon rừng để có thể sớm tham gia vào thị trường kinh doanh, tạo nguồn vốn đầu tư cho lĩnh vực lâm nghiệp.
Năm 2021, Khu dự trữ sinh quyển Cao nguyên Kon Hà Nừng, bao gồm Vườn quốc gia Kon Ka Kinh và Khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng, được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới. Khu vực này trải rộng trên diện tích hơn 400.000 ha và hầu như chưa bị tác động bởi hoạt động khai thác hay phá rừng.
Một số diện tích rừng ở Gia Lai hiện được cho thuê để phát triển du lịch sinh thái, khám phá, trải nghiệm và tham gia chi trả dịch vụ môi trường rừng. Các chuyên gia ước tính diện tích rừng Gia Lai có thể hấp thụ và lưu trữ 1 triệu tấn CO2 mỗi năm, tương đương 1 triệu tín chỉ carbon rừng/năm. Với giá tín chỉ carbon thấp nhất ước tính 10 USD/tấn CO2, Gia Lai có thể thu về khoảng 130 tỉ đồng/năm.
Diện tích rừng chủ yếu quy mô lớn, trải dài ở địa bàn Gia Lai (cũ), trong đó rừng tự nhiên hơn 478.000 ha, rừng trồng hơn 156.000 ha và rừng trồng chưa thành rừng hơn 14.000 ha. Gia Lai có diện tích rừng lớn nhất khu vực Tây Nguyên và đứng thứ 4 cả nước. Đây là tiềm năng lớn để tỉnh phát triển thị trường tín chỉ carbon rừng.
Nếu được tham gia thị trường kinh doanh tín chỉ carbon, Việt Nam nói chung và tỉnh Gia Lai nói riêng sẽ huy động được nguồn tài chính rất lớn. Nguồn tài chính này sẽ góp phần bảo vệ, phát triển rừng bền vững, nâng cao thu nhập và đời sống của người dân cũng như những người làm công tác giữ rừng.
Hiện ngành Kiểm lâm tỉnh đang tạo sinh kế cho người dân bản địa sống gần rừng, trong rừng thông qua nhận khoán, giao khoán bảo vệ rừng. Rừng không chỉ được trồng dược liệu, lâm sản phụ, du lịch sinh thái... mà còn ứng phó với biến đổi khí hậu, mưa lũ, thiên tai khắc nghiệt.
Tín chỉ carbon - cơ chế thị trường cho giảm phát thải
Với Việt Nam, việc hình thành thị trường tín chỉ carbon không chỉ là yêu cầu từ các cam kết quốc tế, mà còn là cơ hội tạo nguồn lực cho phát triển kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực lâm nghiệp – ngành đang phát thải âm và sở hữu nguồn rừng lớn. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành lợi ích thực sự, các chuyên gia nhấn mạnh cần đồng bộ hành lang pháp lý, cơ chế tài chính và năng lực doanh nghiệp.
Bản chất của thị trường này là việc mua bán quyền phát thải khí CO₂ theo nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền". Cơ chế này giúp phân bổ hiệu quả nguồn lực, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư công nghệ sạch, đồng thời tạo dòng tài chính mới cho các hoạt động giảm phát thải. Trên thế giới, nhiều quốc gia đã vận hành thị trường carbon và thu được kết quả rõ rệt trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế carbon thấp.

Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để phát triển thị trường tín chỉ carbon rừng.
Theo các chuyên gia, Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để phát triển thị trường tín chỉ carbon rừng, nhờ lợi thế về tài nguyên rừng, hệ thống chính sách ngày càng hoàn thiện và xu hướng chuyển đổi xanh diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.
Về thể chế, nền tảng pháp lý cho thị trường carbon đã từng bước được hình thành. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 lần đầu tiên quy định về thị trường carbon trong nước. Tiếp đó, Nghị định 06/2022/NĐ-CP đưa ra lộ trình và cơ chế vận hành thị trường carbon, còn Quyết định 232/QĐ-TTg năm 2025 phê duyệt Đề án phát triển thị trường carbon giai đoạn 2025-2030. Theo lộ trình, sàn giao dịch tín chỉ carbon dự kiến vận hành từ năm 2028, tạo nền tảng quan trọng cho sự phát triển của thị trường tài chính xanh tại Việt Nam.
Trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu ngày càng siết chặt các tiêu chuẩn về phát thải, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững, chuyển đổi xanh đã trở thành yêu cầu tất yếu đối với doanh nghiệp. Điều này cũng mở ra cơ hội lớn cho các lĩnh vực có khả năng hấp thụ và lưu trữ carbon, trong đó lâm nghiệp được đánh giá là một trong những ngành có nhiều lợi thế nhất.
Hiện Việt Nam có khoảng 14,79 triệu ha rừng với tỷ lệ che phủ đạt 42,02%, thuộc nhóm 10 quốc gia có diện tích rừng tăng nhanh nhất thế giới. Đây là nguồn tài nguyên quan trọng để phát triển tín chỉ carbon rừng, góp phần tạo thêm nguồn thu từ dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon.
Việc phát triển thị trường tín chỉ carbon rừng không chỉ tạo thêm nguồn tài chính cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng mà còn giúp người dân, chủ rừng có thêm thu nhập hợp pháp từ việc duy trì diện tích và chất lượng rừng. Qua đó, nâng cao nhận thức về giá trị kinh tế của tài nguyên rừng, từng bước hình thành phương thức quản lý rừng theo hướng chuyên nghiệp và bền vững.
Thực tế, Việt Nam đã đạt những kết quả bước đầu tích cực khi nhận 51,5 triệu USD từ Thỏa thuận chi trả giảm phát thải (ERPA) khu vực Bắc Trung Bộ do Ngân hàng Thế giới tài trợ. Đây được xem là minh chứng cho khả năng tham gia thị trường carbon quốc tế cũng như tiềm năng mở rộng các dự án tín chỉ carbon rừng trong thời gian tới.
Theo Luật Bảo vệ môi trường, tín chỉ carbon là chứng nhận quyền phát thải khí CO2 hoặc khí nhà kính khác, có thể giao dịch thương mại. Mỗi tín chỉ thể hiện quyền phát thải một tấn khí carbon dioxide (C02) hoặc một tấn khí nhà kính tương đương. Đối với lâm nghiệp, tín chỉ carbon là chứng nhận kết quả giảm phát thải khí nhà kính và tăng hấp thụ được tạo ra từ các hoạt động giảm nhẹ phát thải, loại bỏ, hấp thụ carbon. Việc tạo ra tín chỉ carbon cần phải tuân thủ các tiêu chuẩn carbon cụ thể theo yêu cầu của thị trường carbon và được bên thứ ba độc lập thẩm định, xác minh.