Mỗi chúng ta ai cũng phải mắc cúm ít nhất là một lần trong đời. Thông thường bệnh cúm làm người ta khó chịu trong 3-7 ngày và khỏi. Người ta chỉ chú trọng khi những biến chứng của bệnh cúm nghiêm trọng nhất là viêm phổi. Bệnh cúm mùa là một trong những nhiễm khuẩn hô hấp quan trọng nhất ở người, làm chết từ 250.000 – 500.000 người mỗi năm trên thế giới.
Cấu trúc virut cúm A (H1N1). |
Cúm A (H1N1) đã từng gây ra đại dịch kinh hoàng năm 1918 làm chết khoảng hơn 40 triệu người. Do sự kết hợp giữa virut cúm A ở người và virut cúm động vật khác nên đã có thay đổi vật liệu di truyền của virut cúm A. Sự thay đổi vật liệu di truyền xảy ra cùng lúc với những trận dịch: xuất hiện năm 1957 (H2N2), năm 1968 (H3N2). Bệnh dịch theo mùa của virút cúm A (H3N2) kể từ 1968 đã trở nên chiếm ưu thế và được mô tả bằng “bước nhảy” của kháng nguyên mặc dù cúm A (H1N1) nổi lên năm 1977 và tiếp tục lưu hành. Virut cúm A có sự biến đổi và truyền chéo giữa động vật và con người, cứ mỗi lần chuyển dạng kháng nguyên như vậy có khả năng gây ra những dịch cúm lớn và là nguy cơ của đại dịch.
![]() Ảnh: AP. |
Các virut cúm A vẫn là nguyên nhân chính gây tử vong
Từ năm 2003 đến nay, virut cúm A (H3N2) vẫn đang là nguyên nhân chủ yếu của tình trạng bệnh nặng và tử vong trên người mắc bệnh cúm trên toàn thế giới. Trung bình, virut cúm này gây nhiễm từ 5 - 15% dân số thế giới, làm cho khoảng 500.000 trường hợp tử vong hàng năm. Từ năm 2002 đến 2007, nhiều chủng cúm mới nổi trội của virut cúm A (H3N2) xuất hiện trong các nước Đông Nam Á. Mức độ nguy hiểm của bệnh cúm tùy thuộc vào khả năng đề kháng của cơ thể và biến chứng do cúm gây ra. Do đó điều trị triệu chứng, nâng cao thể trạng, ngăn ngừa và điều trị biến chứng là điều trị chính cho các bệnh nhân bị cúm nặng.
Các chủng virut cúm chủ yếu ở Việt Nam
Giám sát bệnh cúm trong vài năm gần đây của Chương trình giám sát cúm quốc gia cho thấy cả 3 chủng cúm A (H1N1, H3N2) và B lưu hành quanh năm ở Việt Nam. Điều này cũng dễ hiểu vì Việt Nam đang mở cửa để giao lưu với thế giới. Ngoài việc thu hút các đối tác và khách du lịch, chúng ta phải đối mặt với các bệnh dịch mà họ vô tình mang đến trên các phương tiện giao thông. Mỗi con người đều là một thế giới của các vi sinh vật và đều có thể trở thành nguồn nhiễm tự nhiên cho loài người. Trong cuộc đấu tranh sinh tồn giữa loài người và vi sinh vật trong đó có virut cúm các loại, con người đã có được vũ khí để bảo vệ là vaccin phòng bệnh. Một trong những cơ chế phòng vệ của loài người được tiêm vaccin là khả năng nhận dạng virut và tạo sẵn kháng thể trong cơ thể, đến khi virut này tấn công lại lần sau thì có thể chống trả dễ dàng, nên dù có nhiễm cũng không bị bệnh hoặc chỉ bị nhẹ rồi khỏi. Vaccin cúm mùa hàng năm đều chứa đủ 3 kháng nguyên gây bệnh cúm mùa là A (H1N1), H3N2 và B để phòng cả 3 bệnh cúm mùa do các chủng cúm này gây nên . Dù sao một loại vaccin cúm thông thường cũng có thể giúp cơ thể tạo kháng thể đối với các chủng virut cúm trong đó có virut cúm. Vaccin nên tiêm khi cơ thể khoẻ mạnh mới có hiệu quả, tức là cần phải tiêm sớm ít nhất 3 tháng thì cơ thể mới có thể tạo kháng thể chống virut.
Vì vậy, vaccin là một biện pháp hàng đầu và hữu hiệu nhất để bảo vệ chính bản thân và cộng đồng. Đầu thế kỷ 20 chính vì chưa có vaccin, cho nên con số tử vong trong các vụ dịch lên đến hàng triệu. Chúng ta không thể để một tình trạng như thế xảy ra trong tương lai. Đối với những người đã xác định có khả năng nhiễm bệnh cần phải cách ly và tránh tiếp xúc với họ. Bệnh nhân cần phải đeo khẩu trang để giảm bớt phóng thích nguồn virut ra ngoài. Còn những người phải tiếp xúc với bệnh nhân nên sử dụng các biện pháp để không tạo điều kiện cho virut biến cơ thể chúng ta thành thế giới của chúng - những biện pháp rất đơn giản nhưng lại rất hiệu quả: nhỏ nước muối sinh lý (có bán ở các hiệu thuốc) vào mũi và mắt hàng ngày, nhất là khi tiếp xúc với người bệnh có triệu chứng cúm, chúng ta cắt nguồn bám của virut vào cơ thể. Luôn rửa tay khi tiếp xúc với bệnh nhân. Đây là biện pháp không cho virut cúm có cơ hội xâm nhập vào cơ thể, tăng cường sức miễn dịch của cơ thể, sử dụng các biện pháp dân gian cổ điển: ăn cháo tía tô nóng, ngâm chân nước ấm và giữ chân thật ấm, dùng cao sao vàng xoa bóp lòng bàn chân và bắp chân, cổ, gáy trước khi đi ngủ, ăn uống đủ chất và giữ cho cơ thể không bị cảm lạnh.
