Lo “vượt cạn” ở Hừa Ngài

Tin nóng y tế
Mặc dù được cảnh báo là đường đi xuống Hừa Ngài (huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên) và đặc biệt là tới các bản “vất lắm đấy”

Mặc dù được cảnh báo là đường đi xuống Hừa Ngài (huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên) và đặc biệt là tới các bản “vất lắm đấy” nhưng chúng tôi cũng không thể hình dung nổi nó lại gập ghềnh và khúc khuỷu đến thế. TS. Lưu Thị Hồng (Phó Vụ trưởng Vụ Sức khỏe Bà mẹ Trẻ em – Bộ Y tế) vừa ngất ngư vì say xe vừa nói: “Đường đi thế này thì làm sao vận chuyển phụ nữ mang thai được nhỉ”.

Hừa Ngài là một xã vùng sâu, vùng xa của huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên. Tại đây có đến 98% là người dân tộc thiểu số trong đó dân tộc Mông chiếm đến 92%. Đời sống người dân tại đây còn nghèo, tỷ lệ hộ đói nghèo chiếm 80,7%, trình độ dân trí thấp, phong tục tập quán lại quá lạc hậu, giao thông đi lại cực kỳ khó khăn, dân bản sống rải rác, thiếu thông tin, người dân ít có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ y tế.

Công tác tuyên truyền vận động của cán bộ y tế còn nhiều khó khăn, nữ hộ sinh chủ yếu là người Kinh không biết tiếng dân tộc lại phải phụ trách một vùng khá rộng về địa lý nên không thể đến với từng hộ dân.

Tập tục đẻ tại nhà và chỉ có các bà đỡ được giúp họ vượt cạn của người dân tộc thiểu số đặc biệt là dân tộc Mông đã tồn tại quá nhiều năm. Phụ nữ đến kỳ sinh nở phần lớn là đẻ tại nhà, họ chỉ đến cơ sở y tế khi có tai biến, thậm chí khi tai biến đã quá nặng không còn khả năng cấp cứu.

 Tư vấn cách chăm sóc sức khỏe bà mẹ và em bé tại nhà.  Ảnh: NT

Cô đỡ của bản mình

Vốn là người bản địa, lại được đào tạo bài bản nên sau khi học xong khóa đào tạo cô đỡ thôn bản của tỉnh Điện Biên, cô đỡ Thàu Thị Sú, bản Há Là Chủ A hoạt động khá hiệu quả. Cô cho biết: Để tiếp cận được “đối tượng”, các cô thường tranh thủ lúc đi đường, lúc làm nương, làm rẫy, rồi đi đến từng nhà hỏi dò xem ở đâu có phụ nữ mang thai để tư vấn cho họ cách chăm sóc thai, thăm khám thai, phát gói đẻ sạch và chuẩn bị tinh thần để giúp họ vượt cạn. Nhiều khi đang đi cuốc đất làm nương, nghe thấy tin báo có người chuyển dạ, cô đỡ cũng bỏ cuốc xẻng chạy thật nhanh. Nửa đêm gà gáy mà có người gọi cũng dậy và đi. Bản Há Là Chủ A của Sú đường xá đi lại rất khó khăn, các “chòm” cách xa nhau, có nơi cách nhà cô ở đến 30 cây số đường rừng. Sú kể có nhiều lần phải vừa đi, vừa chạy, vừa trèo mất 2-3 tiếng đồng hồ mới tới nơi, nhưng cũng may là vẫn còn kịp. Năm 2010 cô đỡ được 19 ca, năm 2011 là 5 ca và chăm sóc sau sinh cho nhiều bà mẹ và em bé.

Cũng được học khóa đào tạo cô đỡ thôn bản Mùa Thị Kía, bản Sán Súi cũng đã vận dụng rất tốt những kiến thức được học về giúp dân bản mình. Trong hơn 1 năm, Kía đã đỡ được 6 ca đẻ tại nhà và cô đã phát hiện được một trường hợp thai đôi và tư vấn chuyển tuyến kịp thời. Trong năm 2011 một ca đẻ tại nhà cũng làm Kía hú vía: em bé sinh ra không khóc, toàn thân tím tái nhưng cô cũng đã xử lý tốt. Em bé hiện được 6 tháng và hoàn toàn khỏe mạnh. Cũng giống như bản của Sú, đường xá đi lại tại bản của Kía cũng rất khó khăn, nhất là vào mùa mưa, “phương tiện” đi lại chủ yếu là... đi bộ nhưng cô vẫn thường xuyên tới các gia đình để theo dõi, chăm sóc cho những phụ nữ mang thai và tư vấn cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ cách sử dụng các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình...

Thù lao quá ít ỏi

Bà Vi Thị Hoa – Phó Giám đốc Sở Y tế tỉnh Điện Biên:

Ðội ngũ cô đỡ thôn bản mang lại tính hiệu quả cao trong việc can thiệp nâng cao chất lượng và sự tiếp cận của cộng đồng trong công tác làm mẹ an toàn tại các vùng khó khăn, vùng sâu vùng xa của tỉnh. 100% phụ nữ mang thai khi có dấu hiệu nguy hiểm đều được cô đỡ thôn bản phát hiện tư vấn, chuyển tuyến kịp thời do đó không có trường hợp nào bị tai biến sản khoa và tử vong mẹ tại những nơi có các cô đỡ thôn bản đang hoạt động.

Theo bà Hoàng Thị Tỉnh, Giám đốc Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản tỉnh Điện Biên: Đội ngũ cô đỡ thôn bản hỗ trợ rất đắc lực trong việc làm giảm tử vong mẹ và tử vong sơ sinh. Các cô đã quản lý được số phụ nữ mang thai, tuyên truyền về công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản, vận động được nhiều chị em đi khám thai, chọn được nơi đẻ an toàn, đã đỡ và chăm sóc sau sinh cho nhiều chị em trong xã, bản. Thế nhưng, 50.000đ/tháng/người là mức thù lao thực tế mà các cô đỡ hiện đang được hưởng mà không có thêm một khoản phụ cấp nào khác.

“Thù lao cho việc làm cô đỡ thôn bản ít quá nhưng vì biết là sẽ giúp ích được nhiều cho dân bản nên chúng em mới làm” - là câu trả lời của tất cả các cô đỡ thôn bản chúng tôi gặp ở Hừa Ngài. Cô Mùa Thị Kía cho biết, nếu để chi tiêu cho gia đình một cách hết sức dè sẻn thì mỗi tháng cô cũng cần đến 400.000-500.000đồng. Chính vì lương chỉ có 50.000đồng/tháng nên Kía phải làm thêm nhiều việc khác và không thể chuyên tâm vào công việc làm cô đỡ được. Nhiều trường hợp gia đình sản phụ gọi, cô đã không kịp đến vì đang đi làm ở quá xa.

Chia sẻ khó khăn về mặt kinh phí với các cô đỡ, bà Tỉnh cho biết: Trước đây trên tỉnh có yêu cầu các cô đến trạm y tế xã để giao ban hàng tháng nhưng vì nhiều cô ở rất xa trạm, có nơi cách đến 60km, đi bộ thì không đi được, mà nhờ chồng chở đi bằng xe máy thì không có tiền mua xăng. Hiểu được khó khăn của các cô mà chưa có cách nào tháo gỡ, tỉnh đã phải chuyển sang giao ban hàng quý, mặc dù biết như vậy sẽ bị giảm phần nào hiệu quả hoạt động của mô hình.

Làm sao để duy trì?

Nói về chế độ chính sách dành cho cô đỡ thôn bản, bà Tỉnh cho biết ngay từ khâu tuyển chọn đối tượng đi học đã rất khó khăn. Các em được đào tạo rất bài bản và đã hoạt động tốt, có hiệu quả. Bản thân các em đã làm việc rất nhiệt tình, không kể nắng mưa, sớm tối, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản đã đạt được những kết quả rất đáng mừng. Nhưng chế độ dành cho các em còn quá thấp, không thể đủ trang trải cho cuộc sống. Làm sao để các em dồn hết tâm huyết và sức lực để tiếp tục làm công việc mà mình yêu thích? là câu hỏi cần có lời giải đáp. Nếu không có chế độ, chính sách đãi ngộ thỏa đáng, e rằng đội ngũ này sẽ dần mai một, các chỉ số về chăm sóc sức khỏe sinh sản lại quay về mốc cũ.

Bà Lưu Thị Hồng - Phó Vụ trưởng Vụ Sức khỏe Bà mẹ Trẻ em, Bộ Y tế khẳng định: Cho đến thời điểm hiện tại, đào tạo cô đỡ thôn bản cho các vùng miền núi khó khăn, vùng sâu, vùng xa là giải pháp hữu hiệu để giảm sự cách biệt các chỉ số về chăm sóc sức khỏe sinh sản giữa các vùng miền. Tuy nhiên để duy trì và nhân rộng mô hình này rất cần sự quan tâm của Chính phủ, sự hỗ trợ của chính quyền địa phương và các tổ chức quốc tế.

Ngọc Trâm


Ý kiến của bạn