Liên kết công nghiệp dược và hóa dược để xây dựng chuỗi giá trị thuốc trong nước

Xã hội
SKĐS - Phát triển công nghiệp dược, dược liệu và công nghiệp hóa dược đang được đặt trong một bài toán chung: từng bước hình thành chuỗi giá trị thuốc trong nước, từ nguyên liệu, nghiên cứu, sản xuất đến kiểm nghiệm và đưa sản phẩm ra thị trường.

Đây cũng là hướng đi nhằm nâng cao tính chủ động của ngành Dược trước những biến động của chuỗi cung ứng toàn cầu.

Không chỉ sản xuất thuốc thành phẩm

Quyết định 376/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình phát triển công nghiệp dược, dược liệu sản xuất trong nước đến năm 2030, tầm nhìn 2045 đặt mục tiêu đến năm 2030 thuốc sản xuất trong nước đáp ứng khoảng 80% nhu cầu sử dụng và 70% giá trị thị trường; đồng thời sản xuất được 20% nhu cầu nguyên liệu cho sản xuất thuốc trong nước.

Trong khi đó, Quyết định 270/QĐ-TTg về Chương trình phát triển công nghiệp hóa dược đến năm 2030, tầm nhìn 2045 tiếp tục cụ thể hóa một mắt xích quan trọng là phát triển năng lực sản xuất nguyên liệu. Chương trình đặt mục tiêu đến năm 2030 đáp ứng 20% nhu cầu nguyên liệu cho sản xuất thuốc và 50% nhu cầu nguyên liệu cho sản xuất thực phẩm chức năng, dược mỹ phẩm trong nước.

Các mục tiêu này cho thấy bài toán của ngành Dược không chỉ nằm ở khâu bào chế thuốc thành phẩm. Nếu phụ thuộc lớn vào nguyên liệu nhập khẩu, khả năng chủ động của sản xuất trong nước vẫn bị giới hạn.

Vì vậy, cần hình thành chuỗi liên kết từ dược liệu, hóa dược, dược chất, tá dược đến thuốc thành phẩm, đồng thời kết nối nghiên cứu khoa học với sản xuất và thị trường.

Liên kết công nghiệp dược và hóa dược để xây dựng chuỗi giá trị thuốc trong nước - Ảnh 1.

Từng bước hình thành chuỗi giá trị thuốc trong nước, từ nguyên liệu, nghiên cứu, sản xuất đến kiểm nghiệm và đưa sản phẩm ra thị trường. Ảnh: VGP.

Tăng tốc từ nghiên cứu đến sản phẩm

Năm 2026, Bộ Y tế tiếp tục triển khai các nhiệm vụ khoa học và công nghệ gắn với phát triển dược liệu và công nghiệp dược. Bộ đã đặt hàng 7 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ thực hiện từ năm 2026, tập trung vào nghiên cứu, phát triển dược liệu, thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền và các sản phẩm chăm sóc sức khỏe từ dược liệu.

Đây là hướng tiếp cận quan trọng bởi lợi thế về nguồn dược liệu chỉ có thể chuyển thành giá trị kinh tế cao khi được chuẩn hóa, nghiên cứu hoạt chất, đầu tư công nghệ chiết xuất, tinh chế và phát triển thành sản phẩm có chất lượng ổn định.

Câu chuyện sâm Ngọc Linh là một ví dụ. Tại hội thảo khoa học quốc tế về sâm Ngọc Linh tổ chức tại Đà Nẵng tháng 8/2026, các nhà khoa học cho biết đã xác định 87 hợp chất saponin trong các bộ phận của cây sâm Ngọc Linh. Đà Nẵng hiện có hơn 800 loài dược liệu và đang triển khai các nhiệm vụ về bảo tồn nguồn gen, nhân giống, chế biến và phát triển sản phẩm. Tuy nhiên, quy mô sản xuất, liên kết chuỗi và công nghệ chế biến sâu vẫn là những vấn đề cần tiếp tục đầu tư.

Từ nguồn nguyên liệu đến thuốc thành phẩm vì thế vẫn còn một khoảng cách cần được thu hẹp bằng nghiên cứu, công nghệ và đầu tư dài hạn.

Doanh nghiệp là mắt xích trung tâm

Doanh nghiệp là lực lượng trực tiếp biến kết quả nghiên cứu và chính sách thành năng lực sản xuất. Theo định hướng của Chương trình 270, nhiều nhóm dự án được xác định, từ khu công nghiệp chuyên ngành hóa dược đến cơ sở sản xuất dược chất, tá dược, vitamin, khoáng chất và nguyên liệu phục vụ thuốc chuyên khoa, đặc trị, thuốc mới.

Để những dự án này đi vào thực tế, doanh nghiệp cần môi trường đầu tư ổn định, chính sách khoa học công nghệ phù hợp và cơ chế thuận lợi cho chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ và phát triển thị trường.

Thực tế năm 2026 cũng cho thấy yêu cầu phải đồng bộ chính sách giữa các lĩnh vực. Một doanh nghiệp dược đã phản ánh với Cổng Thông tin điện tử Chính phủ về vướng mắc trong khai báo hóa chất đối với nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất thuốc, phát sinh từ sự giao thoa giữa quy định chuyên ngành dược và quy định mới về hóa chất. Những trường hợp như vậy cho thấy cải cách thủ tục và thống nhất quy định có ý nghĩa trực tiếp đối với hoạt động đầu tư, sản xuất.

Chất lượng quyết định sức cạnh tranh

Cùng với nguyên liệu và công nghệ, chất lượng là điều kiện quyết định khả năng cạnh tranh của thuốc sản xuất trong nước.

Năm 2026, Bộ Y tế tiếp tục hoàn thiện các quy định về quản lý chất lượng thuốc và nguyên liệu làm thuốc, theo hướng tăng cường kiểm tra, lấy mẫu và giám sát dựa trên mức độ rủi ro, diễn biến chất lượng trên thị trường và các hướng dẫn quốc tế.

Điều này đặc biệt quan trọng khi mục tiêu của ngành không chỉ là thay thế một phần sản phẩm nhập khẩu mà còn nâng cao giá trị gia tăng và từng bước tham gia chuỗi cung ứng dược phẩm.

Từ nay đến năm 2030, việc triển khai đồng bộ các chương trình phát triển công nghiệp dược và hóa dược sẽ cần tập trung vào những mắt xích còn yếu: nguyên liệu, công nghệ, nghiên cứu phát triển, chế biến sâu dược liệu và liên kết doanh nghiệp – viện, trường.

Khi các mắt xích được kết nối, từ vùng dược liệu đến nguyên liệu dược, từ phòng nghiên cứu đến nhà máy và thị trường, ngành Dược Việt Nam sẽ có thêm nền tảng để nâng cao tính chủ động, chất lượng và năng lực cạnh tranh.

Liên kết công nghiệp dược và hóa dược để xây dựng chuỗi giá trị thuốc trong nước - Ảnh 2.Công nghiệp hóa dược: Từng bước làm chủ nguồn nguyên liệu cho sản xuất thuốc

SKĐS - Xây dựng năng lực công nghiệp hóa dược để từng bước nâng cao khả năng sản xuất nguyên liệu trong nước và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị dược phẩm.


Ý kiến của bạn