Lên Cổng trời

Thời sự
Lên Cổng trời! Mới nghe đã thấy đầy cuốn hút và thú vị thôi thúc những bước chân. Hẳn nhiều người sẽ mường tượng về một nơi mây trắng bồng bềnh hay cheo leo, heo hút, gập ghềnh...

Lên Cổng trời! Mới nghe đã thấy đầy cuốn hút và thú vị thôi thúc những bước chân. Hẳn nhiều người sẽ mường tượng về một nơi mây trắng bồng bềnh hay cheo leo, heo hút, gập ghềnh... Dù là mơ mộng hay thực tế thì cả hai đều đúng. Không chỉ thế, phong cảnh và con người với sự đa dạng văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số nơi cao nguyên đá vẫn vừa xa, vừa lạ đối với rất nhiều người. Chính điều đó đã tạo nên sức hấp dẫn của vùng đất nơi địa đầu cực Bắc này.

Phải mất 5 - 6 tiếng từ thành phố Hà Giang vượt 160km đường đèo núi khó đi với những khúc cua tay áo, những đoạn dốc cheo leo đầy nguy hiểm mới tới được Đồng Văn, nơi có cột cờ Lũng Cú thiêng liêng và cao nguyên đá đã được công nhận là Công viên địa chất toàn cầu (2010). Dù được báo trước là đường đi rất khó khăn nhưng khi biết sẽ đi trên con đường Hạnh Phúc, qua Cổng trời khiến chúng tôi đều rất háo hức. Nghe tên đã thấy tò mò. Trên cung đường dốc Bắc Sum ngoằn ngoèo, những đoạn đường như xếp chồng lên nhau, ngỡ như vừa đi lại đoạn đường vừa qua, chỉ khác là độ cao tăng dần. Khi chiếc xe thẳng tiến lên đỉnh cũng là lúc Cổng trời Quản Bạ hiện ra, ai nấy trầm trồ vui sướng. Từ dưới nhìn lên qua Cổng trời, thấy bên kia chỉ toàn là mây. Tưởng như qua đó là lạc vào trời xanh mênh mông vậy. Cổng trời chính là chỗ khe hẹp giữa hai đỉnh núi được hạ thấp và mở rộng đủ để con đường chạy qua, xưa kia còn có cánh cổng gỗ nghiến dày đến 1,5m. Đây cũng chính là nơi bắt đầu con đường Hạnh Phúc huyền thoại, đã được hàng nghìn thanh niên 8 tỉnh phía Bắc làm trong 6 năm từ 1959 - 1965 với hơn 2 triệu ngày công đổ mồ hôi, xương máu để hoàn thành. Từ đây, khoảng cách miền xuôi với các huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc được nối liền, nhân dân phía sau Cổng trời được đánh thức, tiến kịp vùng xuôi. Mới chỉ qua Cổng trời một đoạn đã được ngắm núi Cô Tiên ẩn hiện trong mây, trong nắng. Thật đúng như chốn bồng lai tiên cảnh, khiến chúng ta quên hết mệt mỏi. Thiên nhiên thật tài tình đã tạo ra núi Cô Tiên, còn gọi là núi Đôi, đẹp như bầu ngực thiếu nữ.
Lên Cổng trời 1
 Hồ treo trên Cao nguyên đá.

Một ấn tượng sẽ theo suốt hành trình đối với mỗi người đó là cảnh vật luôn hiện ra trước mắt chỉ là đá và đá. Núi đá ở đây trùng điệp những mỏm tai mèo chót vót tím đen. Mà phần lớn núi đá không có nhiều cây cối, nhất là những cây gỗ to. Nhiều người sẽ hỏi vậy thì dân ở đây sống bằng gì trên núi toàn đá nhọn hoắt này? Những cây ngô mọc bạt ngàn lên tận đỉnh núi đá đã cho chúng ta câu trả lời. Hóa ra từ xưa, đồng bào đã biết gùi từng nắm đất lên bỏ vào các hốc đá để trồng ngô. Năm này qua năm khác, đất được tích tụ đầy khắp các hốc đá. Bây giờ khi nhìn lên những dãy núi, có cảm tưởng như đá phải chen những cây ngô xanh ngút ngát. Thật ngạc nhiên và thán phục sức sáng tạo, vượt khó của đồng bào! Đúng là “có sức người sỏi đá cũng thành cơm”.

Chúng ta sẽ còn ngạc nhiên hơn khi được thăm quan di tích nhà Vương, cách thị trấn Đồng Văn 15km. Không ngờ rằng giữa nơi biên cương heo hút đầy khó khăn này, lại mọc lên một tòa dinh thự bề thế mà nhiều người mơ chẳng được. Nằm trên đỉnh quả đồi hình con rùa dưới thung lũng với những cây cổ thụ cao chót vót, nhà Vương trông thật nổi bật và thơ mộng. Năm 1923, Vương Chính Đức được vua Khải Định phong làm Bang tá, cai quản cả một vùng Đồng Văn, Yên Minh, Mèo Vạc và 5 xã huyện Quản Bạ. Vì vậy dân gọi là “vua”. Ông đã mời thầy địa lý về để xem chỗ xây dựng dinh thự. Theo đó cơ nghiệp được xây dựng trên thế đất hình mai rùa tức là trên lưng thần Kim Quy thì sẽ được bền vững đời đời. Dinh thự dựa lưng hướng Bắc, có dãy núi vòng cung như bức tường thành bảo vệ được vững chắc nghìn năm; phía trước mặt có hai ngọn núi hình mâm xôi sẽ mang lại sự no ấm. Hướng nhà nhìn phía Nam vừa hợp phong thủy, tập tục người Việt, vừa thể hiện tấm lòng yêu nước hướng về Tổ quốc. Khi già yếu, ông trao quyền lại cho người tài giỏi nhất trong 4 con trai là Vương Chí Sình. Năm 1945, Vương Chí Sình cùng vợ ba về Hà Nội gặp Bác Hồ, rồi hai người kết nghĩa anh em. Ông là đại biểu Quốc hội Khóa I (1946 - 1960), tái cử khóa II, là Chủ tịch huyện Đồng Văn suốt 10 năm liền. Nhưng đến năm 1956 ông xin thôi, năm 1959 về Hà Nội làm chuyên viên Ủy ban Dân tộc Trung ương, đến 1962 thì mất tại đây.

Kiến trúc nhà Vương được xây theo hình chữ “Mục”, 2 tầng có 4 nhà ngang, 6 nhà dọc chung sân ở giữa, tổng cộng 64 buồng, có cả kho cất vũ khí, tầng 2 có lô cốt. Được tạo dựng bằng nguyên liệu đá xanh, gỗ thông, pơ mu và ngói ống đất nung với lối kết hợp kiến trúc Mông và Mãn Thanh Trung Quốc. Tường xây bằng đá, trong ốp ván, cột kèo gỗ, sàn lát gỗ, mái ngói âm dương, có hàng hiên lợp ngói ống, đầu viên ngói trang trí hoa văn chữ Thọ. Các chi tiết được chạm trổ tỉ mỉ, công phu, đẹp mắt với các hình chủ đạo là rồng, phượng, dơi... Di tích nghệ thuật kiến trúc nhà Vương đã được xếp hạng cấp Quốc gia năm 1993.

Thật thú vị khi tham quan phố cổ Đồng Văn với những ngôi nhà lợp ngói âm dương, tường trình đất dày đến cả mét. Nằm trọn dưới thung lũng được bao bọc bởi những ngọn núi đá nâu đen, những ngôi nhà có từ 100 - 300 tuổi như được tạo thêm nét thâm trầm cổ kính. Chợ phiên ở đây họp vào mỗi chủ nhật. Đi chợ là một niềm vui, một nét văn hóa riêng của bà con. Người ta đến đây để buôn bán trao đổi những vật dụng cần thiết, hoặc đến chỉ để cùng ngồi bên nồi thắng cố, uống với nhau chén rượu ngô cho say cả phiên chợ. Họ đã uống là luôn hết mình. Nên sẽ không có gì là lạ nếu ta bắt gặp ai đó say nằm ngủ ngay tại chợ, hay bên những vệ đường, những người vợ ngồi chờ chồng tỉnh rượu để cùng về. Còn những thiếu nữ Mông, Dao, Giáy, Lô Lô, Pu Péo... thì luôn vui tươi trong váy áo truyền thống sặc sỡ, càng tô điểm sắc màu cho phiên chợ thêm phần hấp dẫn.

Lên Cổng trời 2
 Chợ phiên phố cổ Đồng Văn luôn hấp dẫn du khách.

Nơi đây còn có hóa thạch cổ sinh của Trùng Thoi. Ngoài ra, các nhà địa chất đã điều tra, nghiên cứu và xác lập được ở đây 13 phân vị địa tầng, phát hiện được 17 nhóm hóa thạch cổ sinh rất đa dạng và phong phú về giống, loài trong đó có một số loài đặc hữu cho khu vực. Đây cũng là nơi ghi chứng tích của hai trong năm sự kiện lớn của trái đất về sự hủy diệt hàng loạt thế giới sinh vật trên phạm vi toàn cầu xảy ra cách đây khoảng 350 triệu năm. Thật khó tưởng tượng rằng, cách nay khoảng 400 triệu năm, nơi đây là đáy biển. Cũng chính vì thế mà cao nguyên đá Đồng Văn đã được công nhận là Công viên địa chất toàn cầu thứ 2 Đông Nam Á.

Đồng bào ở đây rất mến khách. Tuy cuộc sống còn khó khăn nhưng lúc nào cũng sẵn đặc sản rượu ngô, mèn mén (được đồ từ ngô nghiền nhỏ) đãi khách. Ở đây ngô là thứ chủ đạo nên mọi thức ăn thức uống đều có thể được làm bằng ngô. Rượu ngô chính là một đặc sản nổi tiếng đã khiến nhiều du khách phải say lòng. Các em bé ở đây thôi bú mẹ là chuyển sang ăn mèn mén, đến cơm ăn cũng hạn chế chứ đừng nói gì đến tẩm bổ. Vậy mà vẫn cứ hồn nhiên lớn lên như cây ngô trên núi đá. Nhìn những bờ rào đá được xếp rất ngay ngắn, đẹp mà hoang sơ, bình dị, lại nhớ câu nói: “Sống trên đá chết nằm trong đá”. Ở vùng biên nên ý thức về chủ quyền dân tộc của bà con rất cao. Họ luôn cảnh giác, đề phòng những âm mưu, thủ đoạn lừa lọc, bắt cóc của bọn thổ phỉ.

Khó mà bỏ qua đỉnh Mã Pì Lèng, một trong “tứ đại đỉnh đèo” Tây Bắc. Khi hành trình lên đây, con đường ẩn hiện vượt bao đỉnh núi đá. Cứ hết ngọn núi này lại mở ra chót vót mênh mông những ngọn núi đá khác. Con đường ngoằn ngoèo uốn lượn nổi bật tô điểm cho trùng điệp núi non thêm phần lộng lẫy sống động. Thật hùng vĩ biết bao, cảm giác như đây là Vịnh Hạ Long trên cạn vậy. Con sông Nho Quế trong xanh thơ mộng vắt qua hẻm núi hẹp và cao nhất nước, nhìn từ đây chỉ như dải lụa nhỏ. Núi đá trập trùng hiểm trở, trông càng hùng vĩ bao nhiêu lại càng cảm phục biết bao thanh niên khi xưa đã chấp nhận khó khăn nguy hiểm treo mình trên vách đá 11 tháng để con đường Hạnh Phúc có thể vượt qua đây tới Mèo Vạc.

Cũng như thế, không thể bỏ qua cột cờ Lũng Cú. Đây không chỉ là mốc chủ quyền nơi cực Bắc ở độ cao 1.700m mà còn là danh thắng độc đáo thiêng liêng. Sau nhiều lần xây dựng trùng tu, cột cờ hiện nay cao 33,15m, trong đó phần chân cột cao 20,25m, đường kính ngoài thân cột rộng 3,8m. Kiểu dáng bát giác khá gần với cột cờ Hà Nội. Chân, bệ cột cờ có 8 mặt phù điêu bằng đá xanh mô phỏng hoa văn của mặt trống đồng Đông Sơn và những họa tiết minh họa các giai đoạn qua từng thời kỳ lịch sử của đất nước, cũng như con người, tập quán của các dân tộc ở Hà Giang. Trên đỉnh cột là quốc kỳ Việt Nam với cán cờ cao 12,9m và lá cờ có diện tích 54m2. Cứ khoảng 1 tuần hoặc 10 ngày là phải thay cờ vì gió ở đây rất mạnh, cờ dễ bị rách.

Chúng tôi tạm biệt cột cờ Lũng Cú lúc sáng sớm, khi ánh bình minh đang xuyên qua những lớp sương mù chập chờn trên những ngọn núi, lại ngỡ mình đang ở chốn thiên đường, nhiều người bảo giống như Đà Lạt. Khi nhớ hình ảnh lá cờ 54m2 tượng trưng cho 54 dân tộc tung bay và nụ cười các em nhỏ mà không khỏi bồi hồi, lại thấy càng thêm yêu mảnh đất địa đầu Tổ quốc.

Bài và ảnh: Phù Sơn


Ý kiến của bạn