Bài 3: Có hay không việc bỏ qua chứng cứ tại tòa?
Như số báo 189 ngày 25/11 đã nêu, vụ án tranh chấp tài sản sau ly hôn đơn thuần đã qua nhiều lần xét xử và hòa giải không thành vì còn nhiều vướng mắc. Theo dõi phiên tòa, dư luận cho rằng cơ quan tố tụng xét xử chưa công tâm, không khách quan trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ, bỏ qua chứng cứ được đương sự cung cấp tại tòa. Thể hiện rõ trong vụ việc tranh chấp 500 triệu đồng góp vốn vào Công ty CP xây dựng và thương mại Phú Cường?
Lạ lùng, người chết vẫn họp hội đồng cổ đông
Liên quan đến phần góp vốn 500 triệu đồng (5.000 cổ phần) vào Công ty CP đầu tư và xây dựng thương mại Phú Cường (Công ty Phú Cường). Theo lời khai trước tòa, anh Lân cho rằng vợ chồng anh góp vốn vào Công ty Phú Cường 500 triệu đồng bằng tiền mặt. Còn chị Cúc và anh Cường cho rằng việc góp vốn là bằng tầng 3 khách sạn Linh Trang (địa chỉ 191 Lý Thường Kiệt, TP. Đồng Hới, Quảng Bình), không phải góp vốn bằng tiền mặt như lời khai của anh Lân. Như vậy, thể hiện các đương sự đều xác định có việc góp vốn.
Điều đáng nói là tại Biên bản cuộc họp Hội đồng cổ đông Công ty Phú Cường ngày 21/12/2006 thể hiện: Chị Cúc góp vốn bằng tầng 3 của khách sạn Linh Trang (BL309), biên bản có chữ ký của ông Phan Đình Khoa. Tuy nhiên, anh Lân đã cung cấp tại tòa “Giấy chứng tử” thể hiện ông Khoa đã chết ngày 4/7/2005, trước khi có cuộc họp Hội đồng cổ đông (BL427). Việc lập ra biên bản giả mạo chữ ký người đã chết là việc làm gian dối, dư luận đặt ra câu hỏi muốn được làm rõ là anh Cường và chị Cúc lập ra biên bản mà trong đó anh Phan Đình Khoa (em trai ông Cường và cũng là anh trai chị Cúc) đã mất hơn 1 năm trước, cũng là cổ đông Công ty Phú Cường vẫn có trong thành phần dự họp và ký trong biên bản nhằm mục đích gì?
Giấy chứng tử của ông Phan Đình Khoa được anh Lân cung cấp tại tòa, chứng minh việc ông Khoa chết trước khi có cuộc họp Hội đồng cổ đông. Như vậy biên bản họp hội đồng cổ đông của Công ty Phú Cường là giả mạo.
Trong khi đó, chứng cứ thể hiện anh Lân, chị Cúc góp vốn vào Công ty Phú cường bằng tiền mặt 500 triệu được thể hiện cụ thể tại Giấy ĐKKD số 2903000085 ngày 28/9/2006 của Công ty Phú Cường và Danh sách cổ đông sáng lập Công ty Phú Cường thể hiện: Số cổ phần chị Cúc sở hữu là 5.000 cổ phần tương đương với giá trị là 500.000.000 đồng (BL306-308) được trình đầy đủ tại phiên tòa.
Phải chăng HĐXX tòa 2 cấp TAND tỉnh Quảng Bình nói chung và HĐXX cấp phúc thẩm nói riêng thiếu trách nhiệm, không khách quan trong việc thu thập và đánh giá chứng cứ?
Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
Chính vì vậy, tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm đối với Bản án phúc thẩm số 03/2014/DS-PT, ngày 17/1/2014 của TAND tỉnh Quảng Bình đã nêu rõ: Theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Luật Doanh nghiệp, nếu góp vốn bằng nhà ở thì các bên phải làm thủ tục đăng ký quyền sở hữu. Tuy nhiên, thực tế Khách sạn Linh Trang vẫn đứng tên anh Lân, chị Cúc. Anh Lân không thừa nhận có góp vốn một phần hay toàn bộ khách sạn Linh Trang vào Công ty Phú Cường. Trong trường hợp này, Tòa án cần phải xác minh, thu nhập hồ sơ vốn góp 500.000.000 đồng, hồ sơ thay đổi góp vốn của chị Cúc vào Công ty Phú Cường; đồng thời, lấy lời khai của anh Lân, chị Cúc, anh Phan Đức Cường... và tiến hành đối chất giữa các đương sự, tòa án cấp sơ thẩm và tòa án cấp phúc thẩm chưa làm rõ các vấn đề nêu trên mà đã tự quyết định bác yêu cầu của anh Lân về việc chia khoản góp vốn 500.000.000 đồng tại Công ty Phú Cường là không có căn cứ.
Như vậy, các đương sự đều xác định có sự góp vốn vào Công ty Phú Cường, nhưng trong quá trình giải quyết tòa án cấp sơ thẩm và tòa án cấp phúc thẩm đều chưa làm rõ được việc góp vốn như thế nào? Cũng tại Quyết định kháng nghị Giám đốc thẩm số 222/2015/KN-HNGĐ ngày 24/8/2015 của Tòa án nhân dân Tối cao đối với bản án phúc thẩm số 03/2014/DS-PT, ngày 17/1/2014 của TAND tỉnh Quảng Bình nhận xét về tố tụng cũng nêu rõ, tranh chấp về việc góp vốn cổ phần 500.000.000 đồng tại Công ty Phú Cường, nhưng tòa án cấp sơ thẩm và tòa án cấp phúc thẩm không xác minh, làm rõ để đưa Công ty Phú Cường vào tham gia tố tụng để xác định hình thức góp vốn với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là thiếu sót. Các thiếu sót này của tòa án cấp sơ thẩm và tòa án cấp phúc thẩm thuộc trường hợp vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Vì lẽ đó, căn cứ khoản 3 Điều 297; Điều 299 Bộ Luật Tố tụng dân sự, Chánh án TAND cấp cao tại Đà Nẵng - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Anh Tiến đã ra Quyết định giám đốc thẩm số 01/2015/DS-GĐT, ngày 03/12/2015 quyết định: Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 03/2014/DS-PT ngày 17/01/2014 của TAND tỉnh Quảng Bình và Bản án sơ thẩm số 11/2013/DS-ST ngày 24/9/2013 của TAND TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình; Giao hồ sơ vụ án cho TAND TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
Theo Luật sư Đinh Thế Hùng - Trưởng Văn phòng Luật sư Bách-Sự-Thuận (Đoàn Luật sư TP. Hà Nội): “Về việc này, tòa cần làm rõ việc người chết vẫn có tên và ký tên trong biên bản họp hội đồng cổ đông là việc làm giả mạo, đồng thời cần trưng cầu giám định chứng cứ bị tố cáo là giả mạo trong tố tụng hành chính. Việc trưng cầu giám định chứng cứ bị tố cáo là giả mạo trong tố tụng hành chính đã được quy định cụ thể tại Điều 90 Luật Tố tụng hành chính 2015”, ông Hùng cho biết.
Theo đó, việc trưng cầu giám định chứng cứ bị tố cáo là giả mạo trong tố tụng hành chính được quy định như sau: Trường hợp chứng cứ bị tố cáo là giả mạo thì người đưa ra chứng cứ đó có quyền rút lại; nếu không rút lại thì người tố cáo có quyền yêu cầu tòa án hoặc tòa án có quyền quyết định trưng cầu giám định theo quy định tại Điều 89 của Luật này. Trường hợp việc giả mạo chứng cứ có dấu hiệu tội phạm thì tòa án chuyển cho cơ quan điều tra có thẩm quyền xem xét theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự. Người đưa ra chứng cứ được kết luận là giả mạo phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật nếu việc giả mạo chứng cứ đó gây thiệt hại cho người khác và phải chịu chi phí giám định nếu tòa án quyết định trưng cầu giám định.
Dư luận một lần nữa đặt ra câu hỏi có hay không việc cố tình làm sai, thiếu trách nhiệm của HĐXX tòa án 2 cấp tỉnh Quảng Bình đã làm cho vụ án kéo dài, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự?