Lão Bộ

Văn hóa – Giải trí
Không phải ở thành phố lớn mà tận Thái Nguyên, mảnh đất rừng núi, căn cứ cách mạng xưa cũng có một gia đình làm nghệ thuật từ đời ông đến đời cháu, trai gái,

Không phải ở thành phố lớn mà tận Thái Nguyên, mảnh đất rừng núi, căn cứ cách mạng xưa cũng có một gia đình làm nghệ thuật từ đời ông đến đời cháu, trai gái, dâu rể đều là nghệ sĩ, quả là chuyện hiếm hoi. Đó là gia đình nghệ sĩ Nguyễn Văn Bộ. Từ một nghệ sĩ thành Trưởng đoàn Kịch rồi Chánh văn phòng Hội NSSK VN, sự thăng tiến ấy khiến ông lâm vào cảnh cơm niêu nước lọ, một chốn đôi nơi. Nhưng cái tình với nghệ thuật, nỗi đau đáu với nghề khiến ông vượt lên tất cả...

Mới thấy Nguyễn Văn Bộ, trông lão hơi dư dữ như anh trưởng bưởng ở bãi đào vàng nhưng khi cười lộ ra hàm răng trắng xóa thì lại ra con người khác, hiền khô. Trò chuyện một lúc là bị lão này hút hồn ngay bằng những câu chuyện hóm hỉnh có kèm theo "minh họa" bằng tay chân, mắt, mũi. Người đa tài thường đa đoan và tổng kết lại theo cách "lý lịch trích ngang" thì hóa ra lão có số khổ! Thế nhưng, với lão có phải là khổ không lại là chuyện khác khi cái niềm say mê nghề nghiệp khỏa lấp đi tất cả.

24 năm trước, vào ngày 9/8/1986 định mệnh, đoàn kịch Bắc Thái sau khi diễn xong Đôi dòng sữa mẹ đầy thắng lợi đã quyết đi chơi trên hồ Núi Cốc. Nào ngờ tai họa ập đến, tàu lật khiến 19 nghệ sĩ, cán bộ cùng 4 cháu nhỏ bị tử vong trong đó có cả vợ và con lão. Đáng lẽ lão cũng "đi" cùng vợ con khi đã ngồi yên vị trên tàu, máy đã nổ chuẩn bị xuất bến nhưng có thêm người xuống tàu nên lão phải nhường. Tai họa xảy ra, có người bảo lão gặp may (?!) nhưng với lão, đấy là bất hạnh theo lão suốt đời. Chả thế mà 24 năm rồi, áo quần của vợ con lão vẫn giữ để mà nhớ dẫu bao người khuyên sao không "hóa".

 Nghệ sĩ Nguyễn Văn Bộ (trái) và nhà văn Chu Lai.

Nhà lão có ông bố quê gốc Thanh Oai, Hà Đông là NS cải lương Tư Châu nổi tiếng cùng lớp các cụ NS Quang Tốn, Bạch Trà đã sáng lập ra đoàn Cải lương Quyết Tiến. Cụ bà thân sinh ra lão là NS Thanh Tý, người gốc Hà Nội lên chiến khu, ngày hòa bình ở lại luôn Thái Nguyên cùng chồng nuôi con và gây dựng nghệ thuật Cải lương Thái Nguyên. Anh cả của lão theo khóa đào tạo diễn viên cải lương đầu tiên của trường Nghệ thuật quốc gia, anh thứ 2 Nguyễn Văn Tiến cũng theo nghiệp nhà thành NSƯT ở Đoàn kịch Bắc Thái. Vợ lão bây giờ, rồi chị dâu cũng đều theo con đường nghệ thuật sân khấu.

Nguyễn Văn Bộ không vào văn công ngay mà tuổi trẻ của lão gắn với TNXP rồi vào bộ đội đóng ở biên giới phía Bắc từ năm 1975 - 1981. Bộ đội sau ngày đất nước thống nhất nhưng đạn lửa chiến trận lão cũng nếm đủ cả. Giải ngũ, theo truyền thống gia đình, lão trở thành diễn viên kịch nói Bắc Thái kiêm thêm chức danh Trưởng đoàn rồi thành đạo diễn sân khấu sau khi tốt nghiệp Trường Đại học SKĐA năm 2002.

Nhiều năm rồi nhưng khán giả vẫn nhớ lão trong vai Vương Lâm ở vở Thủ lĩnh áo chàm. Vai này đem về cho lão Huy chương vàng quốc gia. Cách diễn và nhân vật của Nguyễn Văn Bộ thật đa dạng. Khi là người tử tế như Vương Lâm, thật mộc mạc chân chất của người dân tộc Mông, khi lại là trí thức đầy hiểu biết nhưng cũng đầy "tri thức" trong việc tranh công đổ lỗi, cơ hội, kèn cựa trong vai bác sĩ Phú (Đi giữa đời lặng lẽ). Đến vai Chính ngựa trong Lời cám dỗ của vàng thì lão Bộ lại khác hoàn toàn 2 vai trên. Là dân anh chị trong giới đào vàng nhưng lão không để nhân vật chỉ dữ dằn, hò hét mà sâu thẳm trong góc khuất nhân vật cộm cán này, nghệ sĩ đã tìm được khoảng lặng của tình yêu như một xung đột nội tâm khiến nhân vật đa dạng, đa chiều hơn. Với 2 nhân vật này, lão nhận được thêm 2 giải vàng sân khấu miền duyên hải. Và còn những vai diễn khác nữa dù chính hay phụ, Nguyễn Văn Bộ đều tìm ra cách thể hiện nội tâm chỉ bằng một động tác đơn giản.

Nguyễn Văn Bộ còn đóng cả phim truyện và phim truyền hình như vai chính Quang trong Bế Huệ, ông Sĩ trong Làng ven hồ... Sắp tới, khán giả chắc chắn sẽ còn được thấy "mùi" trong phim khi nhân vật do lão sắm vai bị người ta nhổ nước bọt vào mặt.

Mấy năm vừa rồi, Nguyễn Văn Bộ về Hội NSSK ngồi ở ghế Chánh văn phòng kiêm Trưởng ban Hội viên. Số lão vốn vất vả lại càng vất vả hơn. Người vợ sau vẫn ở Thái Nguyên, hai con đang học đại học nhưng ví như từ đầu năm đến giờ, lão cứ phải vào "trại" (sáng tác) suốt với 18 ngày mỗi đợt. Là người chỉn chu, lão lo đến từng bữa ăn của các nhà viết kịch. Cái điện thoại di động trong tay lão nóng suốt, khi thì giục các vị xuống nhà ăn, khi thì gọi tứ tung để có điện khi nhà sáng tác Vũng Tàu mất điện, rồi công việc hành chính của một Hội khắp cả nước với đủ loại việc không tên... Trông lão như một con ong cần mẫn lại còn lo thêm cho những con ong khác hút nhiều mật dâng đời.

Được cái, lão có cô vợ hiện nay - NS Nguyễn Thị Nguyệt - thật tuyệt vời. Đấy là hậu phương của lão, là chỗ dựa của lão. Mấy năm sau khi vợ con mất, cô Nguyệt cảm cái tài, cái tính của lão mới chủ động "đặt vấn đề". Suốt bao năm, có 2 mặt con với nhau nhưng vợ chồng vẫn nhớ đến người vợ cũ của lão. Kinh tế eo hẹp, hàng tuần, cô vợ tần tảo từ Thái Nguyên vẫn đều đặn tiếp tế gạo, chè, thực phẩm từ Thái Nguyên lên Hà Nội cho lão và 2 đứa con đang học đại học. Chao ôi, hóa ra hạnh phúc của đời người không nằm ở cái lý lịch trích ngang với địa vị, thu nhập thế nào mà ở sự thành đạt hiền thảo của con cái và sự yêu thương từ cái "hậu phương vững chắc" kia.

Gặp Nguyễn Văn Bộ ở Hội NSSK giữa 2 kỳ đi công tác dài ngày, lại thấy vẻ hiền khô sau nụ cười trắng xóa của lão. Hình như niềm đam mê chưa bao giờ làm lão nhớ đến những vất vả khó khăn, chưa bao giờ nghĩ đến lời chê trách ai. Lão là người hạnh phúc chăng?.

Lưu Thủy


Ý kiến của bạn