Từ lâu người ta đã phát nhiều tín hiệu SOS về việc văn hóa dân gian Tây Nguyên đang bị phá hủy dần cùng với thời gian và sự thâm nhập của đời sống văn minh. Nào là cồng chiêng chảy máu, nào là nhà rông bị bê tông hóa, nào là nghề dệt thổ cẩm đang mai một, nào là khan, hơ ri, hơ a mon... đang cùng với các nghệ nhân về với đất... Tất cả những tín hiệu trên là có thật. Song cũng có một sự thật rất đáng mừng là đời sống của đồng bào Tây Nguyên ngày càng đi lên.
Có lẽ phải đến chuyến đi này, tôi mới thực sự hiểu cái việc sưu tầm văn hoá dân gian vất vả đến như thế nào. Thì lâu nay cũng vẫn thường đi đấy thôi. Nghề báo mà. Suốt ngày lăm lăm chực để đi, vài chục lần ăn cơm khỉ, dăm bảy lần ngủ vắt vẻo cành cây... Ấy là nói những lần đi xuống làng để lấy tư liệu viết báo, nhưng dù sao thì cũng tự mình quyết định công việc của mình. Còn đây là đi sưu tầm, tất cả phụ thuộc vào nghệ nhân và rất nhiều yếu tố mà con người không định đoạt được. Ấy là một ngày mùa khô cách đây mấy năm, hai người bạn ào đến rủ tôi: Mới phát hiện được một nghệ nhân hay lắm, đi không, hy vọng kiếm được một cái trường ca để ăn tết cho vui vẻ. Tôi thân với hai người này và hiểu được tình yêu cháy bỏng của họ đối với di sản văn hóa bản địa Tây Nguyên, họ gần như đã gắn cả cuộc đời mình vào công việc sưu tầm nghiên cứu văn hóa dân gian một cách tự nguyện. Mỗi người đã có 3 đầu sách về văn hóa dân gian Tây Nguyên. Thế là chúng tôi lên đường trên 3 chiếc xe máy chất đầy đồ đạc: tăng võng, mì tôm, bông băng cồn, pin, cassette, máy ảnh, cá khô, kim chỉ... như một cái chợ lưu động không thiếu một thứ gì.
Lễ Bỏ mả của người Gia Rai - một trong những nét văn hóa dân gian. |
Điện đã dần dần thay thế lửa xà nu, tivi, radio vào tận buồng ngủ, đồ may sẵn bán đầy chợ, mà lại rẻ và đơn giản hơn là tự ngồi dệt vải rồi may lấy, guitar, organ rõ ràng là thời thượng hơn trong mắt lớp trẻ so với chiêng, đàn goong, kơni..., khi mà chúng diện quần jean, áo thun, đi giày khủng bố... bằng tiền thành quả của chúng từ cà phê, tiêu, cao su... Vậy thì hơ a mon mất dần đi, dân ca mất dần đi, chiêng trở thành hàng hóa, nghề thổ cẩm thất truyền... cũng là điều dễ hiểu. Và cũng bởi thế mà chuyến đi này của chúng tôi là để "giữ lại cái đã".
Vượt hơn 150 cây số cả đường nhựa và đường đất, chúng tôi đã đến làng Hơnr. Đây là một ngôi làng Bana đặc trưng với khoảng hai chục nóc nhà chênh vênh trên sườn đồi. Góc làng, một ngôi nhà rông truyền thống còn khá mới đứng uy nghiêm như một nhát cắt dịu ngọt giữa trời xanh. Vài chục đứa trẻ tha thẩn chơi và tròn mắt xúm lại khi phát hiện khách lạ... Chúng tôi tập kết đồ đạc vào nhà rông và tìm ngay nhà Đinh Gang. Đây là một người đàn ông có thể nói là dị tướng. Nặng khoảng ba chục ký, cao chưa đến mét tư, sống với bà vợ nối dây hơn mình dễ đến gần hai chục tuổi và có một đứa con riêng chắc phải bằng tuổi bố dượng. Tôi phải phỏng đoán vì người Tây Nguyên ít khi nhớ tuổi thật của mình, họ áng chừng theo mùa rẫy. Anh hùng Núp nổi tiếng là thế mà khi mất người ta cũng đưa ra hai ba cỡ tuổi chênh nhau cả chục năm. Cũng nói thêm điều này, sở dĩ chúng tôi xuống thẳng đây và tìm đúng Đinh Gang là do hàng năm trời trước đó, chúng tôi đã dò tìm, liên hệ...
Tôi dám chắc rằng trong chúng ta, kể cả các cháu học sinh đang hàng ngày phải học gạo, không phải ai cũng thuộc lòng truyện Kiều, dù đấy là áng văn bất hủ, là niềm tự hào dân tộc, và với học trò, đấy là cứu cánh, là nghĩa vụ để học, để thi... Thế mà cái anh chàng Đinh Gang nhỏ nhoi và mù chữ đang nằm co ro trước mặt chúng tôi kia, anh ta đang không chỉ đọc thuộc, mà còn diễn bằng tay, bằng mắt, bằng khuôn mặt, bằng giọng nói, và bằng cả cái thân hình bé tẹo ấy, tất cả các nhân vật có trong hơ a mon, không chỉ một hơ a mon mà là 3 cái, đầy hai chục băng cassette trong vòng 1 tuần. Mà giọng mới vang làm sao, khuôn mặt, ánh mắt mới sinh động làm sao. Không chỉ chúng tôi ngạc nhiên và thích thú, mà cả dân làng. Vâng, nhờ có chúng tôi về, lâu lắm rồi dân làng mới lại được nghe hơ a mon.
Hơ a mon, hơ ri, khan... là tiếng người Bana, Giarai, Êđê gọi một loại hình nghệ thuật lâu nay chúng ta quen dịch ra tiếng Việt là trường ca hoặc sử thi. Đây là một câu chuyện thần thoại dài, rất dài, nhiều khi đến chục đêm, được một người có năng khiếu đặc biệt về nhớ, về diễn ngâm, phối hợp với các động tác tay chân, mắt, khuôn mặt... kể vào ban đêm trong những nhà rông hoặc nhà sàn. Tất nhiên một đạo cụ quan trọng không thể thiếu là bếp lửa phập phù. Chính lửa và rượu cần phả vào trường ca một không khí lung linh huyền ảo, ru con người vào thế giới thần thoại từ thuở con người cắp gươm đi đánh nhau với nữ thần mặt trời để tìm... vợ, từ thuở bắp chân con gái Tây Nguyên trắng đến mức mặc 7 lần váy mà ánh sáng vẫn còn lộ ra như ánh chớp làm chói lòa trời đất... Vâng, quả thật là người ta không chỉ nghe trường ca, mà còn là xem trường ca. Chính vì thế, khi đời sống văn minh lên, điện thay thế lửa thì đồng nghĩa với việc trường ca hết đất diễn, chất huyền ảo lung linh, chất thần thoại không còn nữa. Tôi nhớ hồi nhỏ đi sơ tán đã được các anh lớn cho xem phim bằng cách căng nilon lên rồi đốt một đống lửa và nhảy múa trước đống lửa ấy, chúng tôi hào hứng và vô tư vỗ tay khi ngồi trước màn ảnh... nilon xem phim. Kỷ niệm dịu ngọt ấy còn sống mãi đến tận bây giờ...
Hết cái trường ca thứ 3 thì Đinh Gang mệt quá không kể được nữa, dù trong bụng còn 2 cái nữa. Tôi chỉ làm mỗi nhiệm vụ là tiếp nước đường cho anh ta mà cũng mệt. Quái lạ, trong cái cơ thể bé nhỏ kia, năng lượng dự trữ ở đâu ra mà lắm thế. Tiếng cứ trong văn vắt, lúc gào thét giận dữ, khi thủ thỉ tâm tình, lúc lại the thé như mụ đàn bà góa, khi như rót mật vào tai... cứ nhìn cái đám đông lúc im thin thít, khi cười rũ rượi, đám con gái lúc lại đỏ mặt cấu chí nhau thì biết...
Làng quê vẫn thanh bình như ngàn đời vốn thế. Song bên trong nó đang diễn ra những đổi thay dữ dội. Ở làng Hơnr lúc này điện chưa có, nhưng người ta đã dùng ắcquy và pin. Đi nghe hơ a mon, các cô ôm theo những cái máy cassette to đùng, lúc nghệ nhân nghỉ, các cô lại mở nhạc Quang Linh, Phương Thanh... và quây thành vòng tròn trước sân nhà rông để nhảy. Mà hơ a mon này có phải lúc nào cũng có người kể cho nghe đâu. Phải đến 4-5 năm nay, Đinh Gang mới lại hát cho dân làng nghe là nhờ có cán bộ về trả tiền bồi dưỡng để nó khỏi phải lên rừng lấy mây để bán... Số người như Đinh Gang hiện nay rất hiếm, nếu như không muốn nói là độc nhất vô nhị. Vài năm sau tôi trở lại làng thì Đinh Gang đã như một con người khác, nghễnh ngãng và lơ mơ, anh chẳng còn nhớ, còn biết gì cả. Làng đã chan hòa ánh điện, những cái “chảo” bắt tín hiệu truyền hình từ vệ tinh chứng minh làng đang sung túc...
Văn Công Hùng