Lần đầu tiên Việt Nam có khung pháp lý hoàn chỉnh cho tín chỉ cacbon rừng

Xã hội
SKĐS - Nghị định 180/2026/NĐ-CP lần đầu thiết lập khung pháp lý thống nhất về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ cacbon của rừng, đồng thời đặt nền móng xây dựng Tiêu chuẩn quốc gia về tín chỉ cacbon rừng, hướng tới hình thành thị trường cacbon minh bạch, đáp ứng các cam kết giảm phát thải của Việt Nam.

Việt Nam xây dựng tiêu chuẩn quốc gia đầu tiên về tín chỉ cacbon rừng

Sáng ngày 2/7, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Bộ Bông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị phổ biến Nghị định số 180/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu trữ cacbon của rừng.

Theo Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Nghị định 180/2026/NĐ-CP lần đầu tiên thiết lập khung pháp lý thống nhất về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ cacbon của rừng, quy định toàn bộ quy trình từ xây dựng dự án các-bon rừng, xác định kết quả giảm phát thải (GPT), cấp tín chỉ cacbon đến trao đổi, chuyển nhượng và quản lý nguồn thu. Nghị định gồm 4 chương, 20 điều và 6 phụ lục hướng dẫn các mẫu hồ sơ, phương pháp phân bổ mục tiêu giảm phát thải, hợp đồng và quản lý tài chính.

Theo Nghị định, các hoạt động có thể tạo ra tín chỉ cacbon rừng gồm: giảm mất rừng và suy thoái rừng (REDD+); trồng rừng, xúc tiến tái sinh rừng tự nhiên; làm giàu và nuôi dưỡng rừng tự nhiên; nâng cao năng suất, kéo dài chu kỳ kinh doanh rừng trồng; canh tác lâm nông kết hợp và trồng cây phân tán. Các dự án phải được xây dựng, đăng ký, đo đạc, báo cáo và thẩm định theo tiêu chuẩn cacbon rừng.

Lần đầu tiên Việt Nam có khung pháp lý hoàn chỉnh cho tín chỉ cacbon rừng - Ảnh 1.

Lần đầu tiên Việt Nam có khung pháp lý hoàn chỉnh cho tín chỉ cacbon rừng.

Nghị định quy định từ ngày 1/1/2028 sẽ áp dụng các phương pháp tạo tín chỉ được Bộ Nông nghiệp và Môi trường công nhận hoặc theo Tiêu chuẩn quốc gia về cacbon rừng do Bộ Khoa học và Công nghệ công bố. Việc cung ứng chỉ được thực hiện sau khi Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác nhận lượng kết quả giảm phát thải hoặc tín chỉ đủ điều kiện đưa ra thị trường.

Ông Vũ Tấn Phương, Giám đốc Trung tâm Chứng nhận Quản lý rừng bền vững (VFCC) cho biết, Việt Nam đang xây dựng dự thảo Tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) về tín chỉ cacbon rừng nhằm thiết lập bộ yêu cầu thống nhất đối với việc hình thành, đo đạc, thẩm định, xác minh và phát hành tín chỉ cacbon từ các dự án lâm nghiệp và sử dụng đất. Đây được xem là nền tảng kỹ thuật quan trọng để bảo đảm chất lượng tín chỉ cacbon rừng, tăng tính minh bạch và tạo điều kiện cho thị trường cacbon phát triển.

Theo dự thảo, tiêu chuẩn quy định các yêu cầu đối với tín chỉ các-bon rừng được tạo ra từ các dự án trong lĩnh vực lâm nghiệp và sử dụng đất. Nội dung tiêu chuẩn gồm 6 nhóm chính: phạm vi áp dụng; yêu cầu đối với tín chỉ cacbon rừng; yêu cầu đối với dự án các-bon; yêu cầu về đo đạc, báo cáo phát thải và hấp thụ cacbon; yêu cầu về thẩm định, xác minh, đăng ký và phát hành tín chỉ.

Dự thảo quy định tín chỉ cacbon rừng phải được tạo ra từ các dự án cacbon hợp lệ trong lĩnh vực lâm nghiệp và sử dụng đất; tuân thủ quy định về xây dựng, đăng ký dự án và tiêu chuẩn cacbon áp dụng; áp dụng phương pháp luận của IPCC trong tính toán cacbon; được tổ chức độc lập đủ năng lực thẩm định, xác minh và được đăng ký, cấp theo đúng quy định.

Tiêu chuẩn cũng xác định 5 nhóm dự án đủ điều kiện tạo tín chỉ cacbon gồm: REDD+; trồng rừng mới và xúc tiến tái sinh tự nhiên (A/R); nuôi dưỡng, làm giàu rừng tự nhiên (IFM-N); nâng cao năng suất, kéo dài chu kỳ kinh doanh rừng trồng (IFM-P); và canh tác nông lâm kết hợp, cây phân tán (AFP).

Để được triển khai, dự án cacbon phải đáp ứng hàng loạt điều kiện như có quyền sử dụng hợp pháp đối với đất và rừng; tuân thủ pháp luật về đất đai, lâm nghiệp và bảo vệ môi trường; xác định rõ ranh giới dự án trên bản đồ; bảo đảm tính bổ sung, không trùng lặp và có đầy đủ dữ liệu phục vụ tính toán cacbon. Dự thảo cũng khuyến khích các dự án tạo ra đồng lợi ích về kinh tế, xã hội và môi trường, đặc biệt là các dự án liên vùng.

Đối với từng loại dự án, dự thảo quy định cụ thể về đối tượng đất, rừng được áp dụng cũng như thời gian thực hiện dự án và chu kỳ tạo tín chỉ. Chẳng hạn, dự án REDD+ có giai đoạn tín chỉ trên 5 năm và thời gian duy trì trên 10 năm; trong khi các dự án trồng rừng mới, nuôi dưỡng rừng tự nhiên có thời gian dài hơn, với giai đoạn tín chỉ trên 10 năm và duy trì trên 20 năm.

Chuẩn hóa quy trình đo đạc và tính toán các-bon

Theo ông Vũ Tấn Phương, một trong những nội dung trọng tâm của dự thảo là quy định chi tiết việc đo đạc, báo cáo phát thải và hấp thụ cacbon. Đối với từng loại dự án, tiêu chuẩn yêu cầu xác định bể cacbon, nguồn phát thải và loại khí nhà kính; xây dựng dữ liệu hoạt động; lựa chọn hệ số phát thải; xác định mức tham chiếu; tính toán lượng phát thải và hấp thụ trong kỳ báo cáo; đánh giá độ không chắc chắn, nguy cơ rò rỉ và lượng tín chỉ đủ điều kiện giao dịch.

Dự thảo cũng quy định việc xây dựng số liệu hoạt động phải dựa trên hiện trạng rừng, hiện trạng sử dụng đất, biến động sử dụng đất, diện tích khai thác và các dữ liệu liên quan đến phát thải. Hệ số phát thải có thể được xác định từ mô hình tính toán, hệ số quốc gia, hệ số của IPCC hoặc các công bố khoa học phù hợp.

Đối với từng loại dự án, mức tham chiếu cũng được quy định riêng. Ví dụ, dự án REDD+ sử dụng lượng phát thải hoặc hấp thụ trung bình hằng năm trong giai đoạn tham chiếu tối thiểu 5 năm; còn dự án trồng rừng mới mặc định có mức tham chiếu bằng 0, trừ trường hợp phải tính lượng phát thải do loại bỏ thảm thực vật hiện có.

Dự thảo yêu cầu mọi dự án phải đánh giá độ không chắc chắn của kết quả tính toán ở khoảng tin cậy 90%, ưu tiên sử dụng phương pháp Monte Carlo. Đồng thời, dự án phải đánh giá nguy cơ rò rỉ, dịch chuyển và đảo nghịch phát thải để xác định lượng tín chỉ dự phòng. Lượng tín chỉ được phát hành sẽ bằng kết quả giảm phát thải sau khi trừ phần khấu trừ do độ không chắc chắn và rủi ro.

Bên cạnh các yêu cầu kỹ thuật, tiêu chuẩn còn đặt ra các tiêu chí về bảo đảm an toàn môi trường và xã hội. Dự án phải phù hợp với mục tiêu phát triển lâm nghiệp, tuân thủ pháp luật, bảo đảm quyền lợi người lao động, tham vấn đầy đủ các bên liên quan, chia sẻ lợi ích công bằng, đồng thời xây dựng cơ chế tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tranh chấp.

Theo dự thảo, quá trình thẩm định và xác minh sẽ tham chiếu các tiêu chuẩn quốc tế về kiểm kê và xác minh khí nhà kính như ISO 14064, ISO 14065 và ISO 14066. Tổ chức thẩm định, xác minh phải đáp ứng yêu cầu về năng lực, thực hiện đúng quy trình và lập đầy đủ hồ sơ trước khi đề nghị phát hành tín chỉ. Việc cấp tín chỉ sẽ được thực hiện theo quy định của Nghị định 180/2026/NĐ-CP.

Dự thảo cũng mô tả trình tự từ xây dựng văn kiện dự án, thẩm định, đăng ký, triển khai dự án, xác minh kết quả giảm phát thải đến cấp chứng nhận phát hành tín chỉ cacbon rừng. Toàn bộ quy trình được thiết kế nhằm bảo đảm tính minh bạch, khả năng truy xuất và độ tin cậy của tín chỉ trước khi được đưa vào thị trường.

Nghị định 180 giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng Tiêu chuẩn quốc gia về cacbon rừng, thiết lập hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV), xác nhận kết quả giảm phát thải và tín chỉ cacbon, đồng thời quản lý việc thực hiện mục tiêu giảm phát thải của ngành lâm nghiệp. UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện tại địa phương, xây dựng cơ sở dữ liệu, quản lý các dự án và báo cáo định kỳ. Các bộ, ngành liên quan phối hợp triển khai theo chức năng, nhiệm vụ được giao.

Nghị định có hiệu lực từ ngày 15/7/2026. Đồng thời quy định các điều khoản chuyển tiếp đối với nguồn kinh phí còn lại từ Nghị định 107 và Nghị quyết 261 về Thỏa thuận ERPA vùng Bắc Trung Bộ, bảo đảm quá trình chuyển đổi sang cơ chế mới diễn ra liên tục, không làm gián đoạn việc chi trả và quản lý nguồn thu từ cacbon rừng.

Lần đầu tiên Việt Nam có khung pháp lý hoàn chỉnh cho tín chỉ cacbon rừng - Ảnh 2.Triển vọng bán tín chỉ cacbon ở Việt Nam, người dân trồng cây thu tiền

SKĐS - Người nông dân chỉ cần trồng cây và ngồi... thu tiền khi thị trường tín chỉ carbon được thiết lập. Càng trồng nhiều cây xanh, số tiền thu về càng nhiều là động lực để phát triển thị trường nhiều tiềm năng này.


Ý kiến của bạn