Lần đầu tiên bổ sung chỉ số đặc thù đào tạo lĩnh vực Sức khỏe

Y tế
SKĐS - Chuẩn cơ sở giáo dục đại học mới quy định loạt tiêu chí định lượng khắt khe về điều kiện Viện - Trường nhằm chuẩn hóa toàn diện công tác đào tạo lĩnh vực Sức khỏe.

Bộ GD&ĐT vừa công bố dự thảo Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học để lấy ý kiến góp ý rộng rãi nhằm thay thế cho Thông tư số 01/2024/TT-BGDĐT trước đây. Một trong những điểm mới nổi bật nhất của văn bản này là tăng cường quản trị dựa trên dữ liệu thực chất thay cho phương thức báo cáo hành chính trước đây. Toàn bộ dữ liệu về người học, đội ngũ giảng viên và điều kiện bảo đảm chất lượng sẽ được cập nhật, đồng bộ trên Hệ thống cơ sở dữ liệu giáo dục đại học (HEMIS). Các tiêu chí được xây dựng theo hướng định lượng hóa cao, bảo đảm khả năng kiểm chứng, đối sánh và tự động hóa dữ liệu.

Đặc biệt, lần đầu tiên quy định mới đưa chuyển đổi số trở thành một phần của chuẩn đại học với các chỉ số về hệ thống học tập số, học liệu số và tài nguyên truy cập mở. Đồng thời, cơ chế áp dụng đối với đại học quốc gia, đại học vùng cũng được hoàn thiện, làm rõ nguyên tắc chống tính trùng dữ liệu và thiết lập cơ chế rà soát định kỳ nhằm từng bước tiệm cận các chuẩn mực khu vực và quốc tế.

Chuẩn hóa các chỉ số thực hành lâm sàng cho khối ngành Y Dược

Nằm trong định hướng hoàn thiện cơ chế đánh giá theo đặc thù từng lĩnh vực, việc lần đầu tiên các chỉ số riêng đối với lĩnh vực Sức khỏe được bổ sung tại Phụ lục III của dự thảo Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học đã trở thành tâm điểm chú ý của các cơ sở đào tạo. Điều này nhằm gắn chặt hoạt động đánh giá với yêu cầu năng lực nghề nghiệp thực tế, chuẩn đầu ra và trách nhiệm xã hội cốt lõi của ngành Y tế.

Theo đó, các cơ sở giáo dục đại học có đào tạo các ngành thuộc lĩnh vực Sức khỏe cần đáp ứng các ngưỡng tối thiểu chung sau đây:

STTChỉ số chung áp dụng cho tất cả ngành thuộc lĩnh vực Sức khỏe
Ngưỡng tối thiểu bắt buộc
1Bố trí cơ sở thực hành: Tỷ lệ người học được bố trí cơ sở thực hành theo đúng chương trình đào tạo.100%
2Chứng chỉ hành nghề của giảng viên: Tỷ lệ giảng viên trực tiếp dạy thực hành hoặc lâm sàng có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề còn hiệu lực.80%
3Giảng viên kiêm nhiệm từ bệnh viện: Tỷ lệ giảng viên kiêm nhiệm đang công tác tại các cơ sở thực hành (bệnh viện, viện nghiên cứu...) tham gia giảng dạy.30%
4Liên kết bền vững Viện - Trường: Tỷ lệ chương trình đào tạo có ít nhất một cơ sở thực hành được ký kết hợp tác ổn định với thời hạn từ 05 năm trở lên.100%
5Nghiên cứu khoa học có tính ứng dụng: Tỷ lệ đề tài nghiên cứu có kết quả được ứng dụng thực tế trong chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh, phục hồi chức năng, y tế dự phòng...30%
6Đánh giá theo năng lực thực tế: Tỷ lệ học phần thực hành được đánh giá theo chuẩn năng lực nghề nghiệp hoặc năng lực hành nghề tương ứng.80%

Tiêu chí định lượng riêng biệt cho từng nhóm ngành chuyên sâu

Để phù hợp với đặc thù thực tế của từng chuyên khoa, các chỉ số bắt buộc này được phân rã cụ thể cho từng nhóm ngành, trong đó điều kiện thực hành tại cơ sở y tế và năng lực đội ngũ giảng viên là những đòi hỏi cốt lõi.

Nhóm Y khoa và Y học cổ truyền

Đối với nhóm ngành giàu tính lâm sàng này, dự thảo đưa ra yêu cầu rất cụ thể về hạ tầng khi các trường phải đảm bảo tỷ lệ không thấp hơn 01 giường bệnh thực hành trên 10 người học tại các bệnh viện thực hành hoặc bệnh viện trường. Nhằm hạn chế việc học lý thuyết suông, tối thiểu 95% người học phải được thực hành lâm sàng trực tiếp trên người bệnh.

Đồng thời, chất lượng chuyên môn tại cơ sở y tế được kiểm soát chặt chẽ với quy định ít nhất 70% giảng viên dạy lâm sàng tại bệnh viện phải có trình độ sau đại học như Thạc sĩ, Bác sĩ nội trú, Chuyên khoa I, Tiến sĩ, hoặc Chuyên khoa II. Ngoài ra, để rèn luyện kỹ năng thực tế, tất cả người học đều phải hoàn thành đầy đủ thời lượng và nội dung trực lâm sàng theo đúng quy định.

Nhóm Răng - Hàm - Mặt

Đặc thù của chuyên khoa Răng - Hàm - Mặt gắn liền với các trang thiết bị chuyên dụng, do đó dự thảo quy định tỷ lệ ghế nha khoa thực hành phục vụ đào tạo không được thấp hơn 01 ghế trên 10 người học. Về năng lực thực hành, tối thiểu 90% người học phải được tiếp cận và thực hành lâm sàng trực tiếp trên bệnh nhân. Trước khi tốt nghiệp, toàn bộ người học phải hoàn thành đầy đủ số lượng ca điều trị bắt buộc được thiết kế trong chương trình đào tạo.

Nhóm Điều dưỡng và Hộ sinh

Mô hình hợp tác Viện - Trường ở nhóm ngành này chú trọng vào vai trò dẫn dắt của những người đi trước. Cụ thể, tối thiểu 30% số người hướng dẫn thực hành lâm sàng phải là các Điều dưỡng trưởng hoặc Hộ sinh trưởng đang công tác tại các cơ sở thực hành.

Bên cạnh yêu cầu toàn bộ cơ sở thực hành phải đạt chuẩn theo quy định, người học cũng bắt buộc phải hoàn thành đầy đủ thời lượng thực tập, nội dung thực hành và danh mục kỹ năng chăm sóc cốt lõi. Kết quả đầu ra đòi hỏi tối thiểu 90% người học đạt chuẩn năng lực điều dưỡng hoặc hộ sinh khi được đánh giá trước khi tốt nghiệp.

Nhóm Dược học

Công tác đào tạo ngành Dược được định hướng gắn liền với chuỗi cung ứng và sản xuất thực tế. Dự thảo yêu cầu tất cả người học phải được bố trí và hoàn thành thực hành tại các cơ sở dược hợp pháp, bao gồm từ nhà thuốc, khoa dược bệnh viện cho đến các cơ sở sản xuất, kiểm nghiệm hoặc phân phối thuốc.

Để đảm bảo tính thực tiễn trong bài giảng, tối thiểu 50% giảng viên dạy các học phần chuyên ngành phải có ít nhất 12 tháng kinh nghiệm làm việc thực tế tại các cơ sở ngành dược. Chuẩn đầu ra cũng đặt mục tiêu từ 90% người học trở lên đạt chuẩn năng lực hành nghề và có ít nhất 30% đề tài nghiên cứu mang lại kết quả ứng dụng cụ thể trong sản xuất hoặc kiểm nghiệm thuốc.

Nhóm Y tế công cộng

Gắn liền với sức khỏe cộng đồng và dịch tễ, ngành học này đòi hỏi toàn bộ người học phải được thực hành tại các cơ quan y tế thực tế như Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC), các trung tâm y tế, cơ quan quản lý hoặc các chương trình sức khỏe cộng đồng. Trong quá trình học, ít nhất 80% người học phải trực tiếp tham gia vào tối thiểu một đợt điều tra dịch tễ hoặc dự án sức khỏe tại thực địa.

Đội ngũ giảng viên cũng phải có tối thiểu 50% nhân sự sở hữu ít nhất 12 tháng kinh nghiệm thực tiễn về quản lý y tế. Đặc biệt, năng lực nghiên cứu được nhấn mạnh khi có ít nhất 30% đề tài phải phục vụ trực tiếp cho việc xây dựng chính sách y tế, đồng thời tỷ lệ người học đạt chuẩn năng lực khi tốt nghiệp phải từ 90% trở lên.

Nhóm Kỹ thuật y học (Xét nghiệm, Hình ảnh, Gây mê hồi sức...)

Ở nhóm ngành thiên về công nghệ và thiết bị này, tất cả người học phải được bố trí thực hành tại các phòng xét nghiệm, đơn vị chẩn đoán hình ảnh, đơn vị phục hồi chức năng hoặc các khu kỹ thuật y học chuyên biệt. Hệ thống hạ tầng phải đáp ứng độ chuẩn xác cao khi tối thiểu 90% thiết bị thực hành phải đúng chủng loại, đủ số lượng và hoạt động tốt theo danh mục tối thiểu của chương trình đào tạo.

Song song đó, ít nhất 80% giảng viên hướng dẫn phải có chứng chỉ hành nghề hoặc chứng nhận chuyên môn phù hợp. Nhằm tăng cường tính tương tác thực tế, tối thiểu 80% học phần thực hành phải được triển khai trên thiết bị thực hoặc hệ thống mô phỏng chuẩn hóa, hướng tới mục tiêu trên 90% người học đạt chuẩn năng lực kỹ thuật nghề nghiệp khi ra trường.

Lần đầu tiên bổ sung chỉ số đặc thù đào tạo lĩnh vực Sức khỏe- Ảnh 1.Điều kiện xét tuyển thẳng vào các trường Y Dược năm 2026

SKĐS - Dù được tự chủ phương án tuyển sinh, các trường đại học Y Dược vẫn phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định về chất lượng đầu vào.


Ý kiến của bạn