(SKDS) - Tùy theo vị trí của tổn thương lao màng bụng lan tỏa hay khu trú mà biểu hiện lâm sàng của bệnh khác nhau. Và tùy theo cơ địa, tuổi tác, độc lực và số lượng của vi khuẩn lao cũng như tình trạng phản ứng của cơ thể người bệnh mà trên lâm sàng có các thể lao màng bụng cấp tính, bán cấp và mạn tính với các biểu hiện mờ nhạt hay rầm rộ. Trên thực tế, thường là khi bệnh đã thành mạn tính với những triệu chứng điển hình, rầm rộ hơn thì người bệnh mới đi khám và điều trị...
Các thể lao màng bụng
Lao màng bụng mạn tính được chia thành 3 thể là: cổ trướng, loét bã đậu, xơ dính.
![]() Điều trị cho bệnh nhân tại Bệnh viện Phổi TW. Ảnh: TM |
Lao màng bụng thể cổ trướng là thể nhẹ, nếu được điều trị sớm, đúng phác đồ thì đa số diễn biến và tiên lượng tốt. Nếu không được điều trị tốt thì sẽ chuyển nhanh sang thể bã đậu hoá hoặc xơ dính hóa.
Thể bã đậu hóa: Thường là giai đoạn tiếp theo của thể cổ trướng. Khá nhiều bệnh nhân đến điều trị ở giai đoạn này vì giai đoạn cổ trướng diễn biến kín đáo.
Cần lưu ý rằng, muốn bệnh khỏi, không tái phát, không bị kháng thuốc..., bệnh nhân phải dùng thuốc theo đúng phác đồ của bác sĩ chuyên khoa lao. Không nên tự ý uống thuốc, dùng thuốc theo đơn của người khác, hoặc dừng thuốc khi thấy các triệu chứng bệnh thuyên giảm. Ngoài chế độ dùng thuốc, bệnh nhân cần nghỉ ngơi tĩnh dưỡng tốt, không nên lao động nặng, kết hợp chế độ ăn giàu đạm và vitamin. |
Lao màng bụng thể bã đậu hóa là một thể nặng, có thể gây ra những ổ áp-xe và có thể vỡ gây rò mủ ra thành bụng hoặc rò vào đại tràng, chất bã đậu theo phân ra ngoài. Bệnh nhân có thể tử vong do suy mòn, do các biến chứng nặng ở đường tiêu hóa. Bệnh càng trầm trọng hơn khi có thêm dấu hiệu lao phổi, lao các cơ quan khác.
Thể xơ dính: Đây là thể nặng nhất của lao màng bụng mạn tính, là giai đoạn tiếp theo của lao màng bụng cổ trướng hoặc loét bã đậu. Vì xơ dính với các đoạn ruột nên có thể làm thắt ruột, gây hội chứng bán tắc hoặc tắc ruột phải can thiệp bằng ngoại khoa. Ngoài ra thể xơ dính còn có thể gây viêm dính quanh gan, mật, viêm tắc vòi trứng. Thể này thường diễn biến nặng, dễ dẫn đến tử vong Tuy nhiên, thể bệnh này ngày càng hiếm gặp.
Ở thể bệnh này màng ruột xơ dính, bệnh nhân thường có hội chứng nhiễm trùng, nhiễm độc mạn tính. So với thể cổ trướng và loét bã đậu, trong thể xơ dính các dấu hiệu sốt, mệt mỏi..., có xu hướng thuyên giảm. Tùy thuộc vào mức độ tổn thương xơ hóa màng bụng mà dẫn đến tình trạng có khi triệu chứng cơ năng rất ít như bụng trướng đau, bí trung đại tiện, trung tiện được thì đỡ đau; nhưng cũng có thể có triệu chứng của tắc ruột: đau bụng, trướng hơi,... Khi thăm khám thấy bụng cứng, lõm lòng thuyền do xơ dính co kéo các cơ thành bụng, khi sờ khó xác định được các tạng trong ổ bụng, chỉ thấy các khối cứng, dài, nằm ngang như những sợi thừng do mạc nối lớn bị xơ cứng (còn gọi là dấu hiệu thừng phúc mạc).
Cần làm gì khi nghi ngờ lao màng bụng?
Khi bệnh nhân có các biểu hiện nghi ngờ bị lao màng bụng sẽ được chỉ định làm các xét nghiệm thường quy như xét nghiệm máu (thường là bạch cầu tăng, nhất là Lymphocyt), làm phản ứng Mantoux, xét nghiệm dịch ổ bụng, soi ổ bụng và sinh thiết màng bụng, siêu âm ổ bụng có giá trị phát hiện dịch màng bụng và các hạch mạc treo,... Với bệnh nhân có triệu chứng ho và khạc đờm nghi lao phổi được xét nghiệm đờm và chụp Xquang phổi,... Ngoài ra tùy theo điều kiện có thể làm các xét nghiệm miễn dịch gắn men (ELISA: Enzyme Linked Immuno Sorbent Assay), kỹ thuật sinh học phân tử PCR (Polymeraza Chain Reation) các kỹ thuật này cho độ nhạy và độ đặc hiệu cao. Các kỹ thuật đặc biệt như chụp cắt lớp vi tính chỉ áp dụng cho những trường hợp đặc biệt, khó phân biệt với các bệnh khác.
Tổn thương do lao thể bã đậu. |
Trong các xét nghiệm trên thì soi màng bụng rất có giá trị trong chẩn đoán. Khi soi ổ bụng có thể thấy các hạt lao như hạt kê trên phúc mạc thành và phúc mạc tạng, trắng đục, bóng sáng, rải rác hoặc tụ thành đám. Đám dính che lấp các tạng, dải dính ở hố chậu hoặc quai ruột. Sung huyết nhiều ở quai ruột và phúc mạc.
Quá trình thăm khám và làm các xét nghiệm giúp các bác sĩ chẩn đoán phân biệt giữa bệnh lao màng bụng với các bệnh như viêm màng bụng cấp tính, viêm ruột thừa, xoắn ruột, tắc ruột ở thể cấp tính. Ở thể cổ trướng, ngoài lao, còn có thể gặp cổ trướng trong ung thư gan, dạ dày, đại tràng, buồng trứng...; cổ trướng kết hợp tràn dịch màng phổi, u nang buồng trứng; viêm dính màng ngoài tim gây suy tim phải. ở thể bã đậu hóa cần loại trừ ung thư nguyên phát hay di căn trong ổ bụng hay các khối dính hạch trong bệnh lymphosarcom.
Trước đây, khi chưa có thuốc chống lao đặc hiệu, tiên lượng của lao màng bụng rất xấu. Việc điều trị chủ yếu là nghỉ ngơi tĩnh dưỡng và liệu pháp ánh nắng. Từ khi có các thuốc lao đặc hiệu như streptomycin, rimifon và đặc biệt là rifampicin, diễn biến lâm sàng của lao màng bụng đã có những thay đổi, kết quả điều trị tốt hơn, thể loét bã đậu, xơ dính rất hiếm gặp trên lâm sàng.
Sau khi thăm khám và xác định thể bệnh, mức độ của bệnh, các bác sĩ sẽ cho bệnh nhân dùng các thuốc chống lao đặc hiệu kết hợp với các thuốc điều trị triệu chứng phù hợp. Với bệnh lao màng bụng, chủ yếu vẫn là điều trị nội khoa với những nguyên tắc và phác đồ như trong điều trị lao phổi. Khi trong ổ bụng có nhiều dịch, ép lên ngực làm cho người bệnh khó thở phải chọc hút để giảm áp lực thì triệu chứng khó thở sẽ cải thiện. Nếu người bệnh có các dấu hiệu tắc ruột như đau bụng nhiều, nôn, có dấu hiệu rắn bò..., do dính cần phải được sớm can thiệp ngoại khoa.
BS. Trần Hạnh Hoa
