Lạm phát không chừa ai cả nhưng rõ ràng nó sẽ ảnh hưởng đến người nghèo nhiều nhất. Vì vậy Việt Nam cần tập trung, kiên định và quyết liệt thực hiện Nghị quyết 11 để đối phó với lạm phát và những bất ổn kinh tế vĩ mô (KTVM). Đó là những nét chính mà ông John Hendra, Điều phối viên thường trú của LHQ tại Việt Nam đã chia sẻ với các phóng viên trong cuộc gặp với giới báo chí mới đây.
PV: Xin ông cho biết một số đánh giá của mình về tình hình KTVM, đặc biệt liên quan đến vấn đề lạm phát của Việt Nam hiện nay?
Ông John Hendra: Tôi cho rằng, giống như nhiều nền kinh tế mới nổi ở châu Á , Việt Nam đã và đang phải đối mặt với áp lực lạm phát nặng nề hơn so với các nước ở các khu vực khác trên thế giới. Lạm phát do yếu tố toàn cầu, vì giá dầu và lương thực thế giới tăng cao. Bên cạnh đó cũng có các yếu tố bên trong về tài khóa, tiền tệ và thị trường khiến lạm phát gia tăng.
Tuy nhiên, điều quan trọng là với Nghị quyết 11, Chính phủ Việt Nam đang cho thấy sự quyết tâm trong bình ổn KTVM, đối phó với lạm phát. Theo tôi, Nghị quyết 11 là một bước ngoặt không chỉ trong hoạch định chính sách mà còn trong tư duy chính sách. Vì chúng ta thấy lần đầu tiên trong vòng nhiều năm qua, tăng trưởng không còn được coi là ưu tiên trước mắt nữa. Điều này thể hiện sự đồng thuận ngày càng cao đối với yêu cầu chuyển hướng trọng tâm từ “số lượng” sang “chất lượ ng” của tăng trưởng và phát triển. Đồ ng th i, nó cũng cho thấy Chính phủ Việt Nam đã rất chủ động, tích cực trong các biện pháp thuộ c chính sách tiền tệ nhằm giải quyết lạm phát.
PV: Liên quan đến vấn đề đầu tư công, như ông đã nói về các dự án hiệu quả và không hiệu quả . Nhưng xin ông cho biết làm thế nào để phân định rõ thế nào là hiệu quả , thế nào là không hiệu quả tránh tình trạng khi Chính phủ yêu cầu các địa phương cắt giảm đầu tư công, địa phương nà o cũng nói các dự án của họ là cần thiết và hiệu quả ?
![]() Ông John Hendra, Điều phối viên thường trú của LHQ tại Việt Nam. |
Ông John Hendra:
Tôi nghĩ , việc đầu tiên cần làm là phải có cơ chế hiệu quả để phân định rõ các dự án nào là hiệu quả. Đây sẽ là cơ sở để phân định khi một lãnh đạo tỉnh nào đó nói rằng dự án ở địa phương họ hiệu quả hay không. Thứ hai, tôi nghĩ việc phân cấp cho địa phương là cần thiết nhưng nên có khung quy định như thế nào đó để các tỉnh sẽ không phát triển các dự án khi chưa thực sự cần thiết như việc mỗi tỉnh vùng duyên hải sẽ không xây dựng các cảng biển nước sâu. Tôi nghĩ đây là vấn đề đang thiếu hiện nay.
PV: Việt Nam có thể kẹt trong bẫy thu nhập trung bình (TNTB) ngay từ khi vừa gia nhập nhóm quốc gia này, ông nghĩ sao về điều này?
Ông John Hendra: Vấn đề mắc bẫy TNTB rất phổ biến trên thế giới. Để tránh được bẫy nà y thì trong chiến lược phát triển của mình, trong các chính sách phát triển kinh tế cần phải đẩy mạnh tính ổn định, tập trung nhiều vào mô hình tăng trưởng cacbon thấp và tăng trưởng mang tính bền vững. Thí dụ, nhìn vào chính sách phát triển kinh tế Trung Quốc 5 năm vừa qua, chúng ta thấ y nước này đã tập trung nhiều hơn vào các chính sách tăng trưởng bền vững.
Tôi cho rằng, điều quan trọng đối với Việt Nam là cần phát triển kinh tế bền vững về mặt môi trường, đồ ng thời phải giải quyết các vấn đề về mất bình đẳng trong cái bẫy về TNTB này. Bên cạnh đó, cần tập trung đầu tư cho giáo dục, đặc biệt là giáo dục nguồn nhân lực chất lượng cao và hướng tới nền kinh tế công nghệ cao, thân thiện với môi trường. Đây là những yếu tố then chốt để giúp Việt Nam vượt bẫy TNTB.
PV: Ông đánh giá thế nào về cải cách hành chính ở Việt Namtrong những năm qua?
Ông John Hendra: Tôi nghĩ đây là một lĩ nh vực còn nhiều thách thức và cũng khó có thể nhìn thấy kết quả ngay. Tuy nhiên trong 5 năm nhiệm kỳ của tôi vừa qua, tôi có thể nhấn mạnh một số thành công như thế này: Một là, đề án 30 về cải cách thủ tục hành chính. Đây là điều hết sức quan trọng đối với cộng đồng đầu tư vào Việt Nam, cộng đồng kinh doanh nói chung cũng như đối với các DN Việt Nam. Hai là , mộ t sáng kiến mà LHQ chúng tôi cũng tích cực hỗ trợ đó là các khảo sát và các kết quả mang tính định hướng sử dụng trên cơ sở bằng chứng. Có nghĩa là tất cả những chính sách nào đó cần thay đổi, cải cách thìkhi đưa ra cần phải có cơ sở và bằng chứng cụ thể. Ba là, các chỉ số hài lòng của người dân về các dịch vụ công cũng được cải thiện tích cực. Bốn là, nhận thức của các cán bộ viên chức, công chức cũng đã được cải thiện đáng kể. Chúng tôi hy vọng, trong thời gian tới Chính phủ sẽ tiếp tục có nhiều cải thiện hơn về dịch vụ công cũng như nâng cao thêm nhận thức và sự tham gia của người dân trong nỗ lực giải quyết tệ nạn quan liêu, tham nhũng trong các cơ quan công quyền. Về phía mình, LHQ cam kết sẽ tiếp tục ủng hộ công cuộc cải cách hành chính công của Việt Nam.
PV: Xin cảm ơn ông!
HỒNG QUÂN (thực hiện)
