Nghệ thuật âm nhạc hát then của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Thái của Việt Nam đang được Bộ VH-TT&DL lập hồ sơ đề cử cấp quốc gia để trình UNESCO công nhận là “Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại”. Như nhiều di sản phi vật thể khác là ca trù, xẩm…, dù đứng trước sức ép của nhiều loại hình văn hóa nghe nhìn thời đại mới, song hát then vẫn bền bỉ tồn tại, được tiếp nối và trao truyền rộng rãi trong đời sống hôm nay.
Nghệ thuật hát then vốn là hình thức nghệ thuật tín ngưỡng đặc sắc của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở nước ta, được phổ biến chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Hà Giang, Lai Châu, Điện Biên hay Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang... Hát then, ngoài nghệ thuật diễn xướng độc đáo còn là loại hình dân ca tín ngưỡng gắn với tâm linh của đồng bào dân tộc Tày, Nùng, Thái và có sức sống mãnh liệt bởi nội dung chứa đựng tính nhân văn sâu sắc.

Phần biểu diễn hát then của các diễn viên trẻ tỉnh Tuyên Quang trong trong Liên hoan nghệ thuật hát then – đàn tính vừa qua.
Đến nay, nhiều nhà nghiên cứu văn hóa dân gian khẳng định, hát then vẫn được duy trì trong cộng đồng thông qua các nghi lễ, tập tục theo vòng đời như lễ kì yên, giải hạn, lễ nối khố, lễ cấp sắc... Ông Hoàng Đức Hậu, Vụ trưởng Vụ Văn hóa dân tộc (Bộ VH-TT&DL) cũng cho biết, hát then của đồng bào dân tộc Tày, Nùng, Thái rất độc đáo, chỉ khi chúng ta trực tiếp chứng kiến, quan sát thì mới cảm nhận hết vẻ đẹp của loại hình nghệ thuật này.
Tại một cuộc hội thảo tại tỉnh Tuyên Quang với mục đích nhằm tôn vinh, quảng bá và có thêm cơ sở đưa nghệ thuật hát then - đàn tính đến gần hơn với bạn bè quốc tế, ông Nguyễn Bình Định, Viện trưởng Viện Âm nhạc Quốc gia khẳng định giá trị đáng quý nhất của hát then là đã tích hợp nhiều loại hình di sản khác nhau, từ ngôn ngữ, văn học, thơ ca cổ, cho đến phong tục, tập quán, tín ngưỡng, y phục, nghệ thuật trình diễn âm nhạc và múa dân gian. Vì thế loại hình di sản văn hóa này rất cần được tôn vinh, bảo vệ.
Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan lại đưa ra dẫn chứng khác, đó là hát then - đàn tính đã được đào tạo trong trường nghệ thuật của các dân tộc ít người từ những năm 1960 của thế kỷ trước. Các nghệ sĩ tập hợp các câu then từ các ông then, biên soạn thành giáo trình. Trong khi đó, hiện nay hát then - đàn tính đang hiện hữu tại 17 tỉnh, thành phía Bắc, được người dân đam mê và lưu truyền. Tại nhiều vùng có hát then, trong đời sống thường nhật hoặc các sự kiện, đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Thái vẫn sử dụng hát then - đàn tính để biểu diễn. Đồng bào vẫn luôn say sưa với những bản then cổ hoặc then được viết lời mới bất kể khi nào có thể, do đó hát then ở các tỉnh, thành có then vẫn giàu sức sống.
Sự lan tỏa của hát then còn được thể hiện ở chỗ, nhiều địa phương không phải là nguồn cội của hát then nhưng loại hình nghệ thuật này vẫn hiện diện ở đó. Bởi lẽ, đồng bào dân tộc Tày, Nùng, Thái đến với vùng đất mới thì họ luôn mang theo làn điệu then để nhân rộng trong cộng đồng, then đối với họ như vật bất ly thân. Vì thế ở TP.Hồ Chí Minh, một số tỉnh ở khu vực Tây Nguyên... đã có các câu lạc bộ hát then - đàn tính do đồng bào dân tộc tại các địa phương miền núi phía Bắc có then đem tới.
Nghệ thuật hát then vẫn đang hiện hữu trong đời sống của các đồng bào dân tộc Tày, Nùng, Thái là thực tế không thể phủ nhận. Và trong bối cảnh mới, để bảo tồn, quảng bá và gìn giữ hát then, nhiều địa phương cũng như các nghệ nhân, ngoài việc trao truyền nhau những điệu then cổ còn cải biên, nâng cao và đặt lời mới dựa trên chất liệu dân gian và không gian diễn xướng. Nhiều bài then có lời mới dựa trên chất liệu của then cổ được giới chuyên gia đánh giá cao, đồng bào dân tộc yêu thích và biểu diễn trên nhiều sân khấu lớn nhỏ thời gian qua như: Trăng soi đường Bác, Then tò mạy, Lập Xuân, Lên xứ Lạng... Theo ông Phan Đình Tân - người phát ngôn Bộ VH-TT&DL, tới đây, Bộ sẽ tăng cường thông tin, hình ảnh về hát then - đàn tính để giới thiệu rộng hơn nữa di sản then đến bạn bè quốc tế, thông qua các dịp xúc tiến, quảng bá hình ảnh, các ngày văn hóa Việt Nam ở nước ngoài.
Nghệ thuật hát then rõ ràng đã và đang được cộng đồng - chủ nhân đích thực của di sản lưu giữ cùng với thời gian. Cùng với nền tảng đó, khi chúng ta vẫn mở ra những liên hoan hát then - đàn tính có quy mô toàn quốc như vừa qua và các cơ quan chức năng vẫn không ngừng quan tâm, hỗ trợ trong việc quảng bá hình ảnh, nghiên cứu..., hát then càng có cơ sở để phát triển, tồn tại bền vững. Vì thế, nghệ thuật hát then có thêm nhiều cơ hội để đến với danh hiệu “Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại”!
Tường Vi