Rạng sáng 10/10, Giáo sư Pierre Joliot từ giã cõi đời tại thủ đô Paris (Pháp) ở tuổi 94, để lại niềm tiếc thương sâu sắc đối với giới khoa học.
Tin buồn này được Viện Curie, trung tâm nghiên cứu danh tiếng do chính bà ngoại ông, thiên tài vật lý Marie Curie, cùng các cộng sự đồng sáng lập vào năm 1909, chính thức công bố.

Giáo sư Pierre Joliot đã từ giã cõi đời vào ngày 10/10 tại thủ đô Paris (Pháp) ở tuổi 94. Ảnh: Quentin Censier/IBPC
Nhắc đến dòng họ Joliot-Curie, nhân loại lập tức nghĩ đến một tượng đài khoa học hiếm có với 4 thành viên từng vinh dự đón nhận giải thưởng Nobel lừng lẫy. Vợ chồng Marie Curie và Pierre Curie cùng nhà vật lý Henri Becquerel đã chia nhau giải thưởng Nobel vật lý danh giá vào năm 1903.
Tám năm sau, bà Marie Curie tiếp tục bước lên bục vinh quang với giải Nobel hóa học. Cho đến nay, nhà nghiên cứu thiên tài này vẫn giữ kỷ lục là người duy nhất giành giải Nobel ở 2 lĩnh vực hoàn toàn khác nhau.
Khi cậu bé Pierre Joliot mới 3 tuổi, cha mẹ ông là bà Irène Curie và ông Frédéric Joliot-Curie lại tiếp tục mang về giải Nobel hóa học năm 1935, nhờ phát hiện đột phá về hiện tượng phóng xạ nhân tạo.
Trong khi các thành viên của gia đình, gồm cả người chị gái Hélène Langevin Joliot, vẫn miệt mài theo đuổi lĩnh vực vật lý hạt nhân theo truyền thống gia đình, vị giáo sư trẻ ngày ấy lại quyết định rẽ sang một con đường hoàn toàn mới.
Theo những dòng tưởng niệm từ Viện Curie, Giáo sư Pierre Joliot từ chối vật lý hạt nhân vì nhận ra đó là một nền khoa học lớn, đòi hỏi những cỗ máy khổng lồ cùng các tập thể nghiên cứu vô cùng đông đảo. Ngược lại, sinh học mở ra một chân trời tự do hơn khi cho phép ông tự tay thực hiện các thí nghiệm ngay trên một góc bàn nhỏ.

Giáo sư Pierre Joliot khi còn là đứa trẻ sơ sinh cùng gia đình, từ trái sang phải: bà Marie Curie, bà Irène Joliot-Curie, bà Hélène Langevin-Joliot, ông Frédéric Joliot-Curie và bà Emilie Joliot. Ảnh: Société Française de Physique/AIP Emilio Segrè Visual Archives /Jost Lemmerich
Bắt đầu từ giữa thập niên 50 của thế kỷ trước, khi làm nghiên cứu sinh tại Đại học Paris (Pháp), Giáo sư Joliot từng bước dấn thân vào lĩnh vực sinh năng học thực vật lúc bấy giờ hãy còn non trẻ. Năm 1954, ông chính thức gia nhập Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp (CNRS) và làm việc tại Viện Sinh học Lý hóa ở Paris.
Nơi đây cũng chính là chốn dệt nên mối lương duyên đẹp đẽ giữa Giáo sư Joliot và nhà nghiên cứu Anne Gricouroff, người bạn đời và là người đồng nghiệp tận tụy sát cánh bên ông suốt bao thăng trầm.
Nhịp đếm 4 lần mở ra bước ngoặt của ngành sinh học
Thời điểm đó, giới nghiên cứu mới chỉ chạm đến những bước sơ khai trong việc thấu hiểu quá trình quang hợp kỳ diệu của tự nhiên. Dù diễn ra chủ yếu ở thực vật xanh, quá trình này còn xuất hiện ở tảo, vi tảo, vi khuẩn lam cùng một số sinh vật nhân thực đơn bào để chuyển hóa ánh sáng và khí carbon thành năng lượng đồng thời giải phóng oxy ra bầu khí quyển.
Câu hỏi cốt lõi làm trăn trở biết bao thế hệ nhà khoa học lúc bấy giờ là nguồn gốc chính xác của lượng oxy ấy hình thành từ đâu. Bằng sự nhạy bén thiên bẩm, Giáo sư Joliot đã tìm ra chìa khóa giải đáp thông qua những thí nghiệm bề ngoài tưởng chừng hết sức đơn giản.
Xuyên suốt thập niên 60, ông tiến hành giữ các mẫu tảo trong bóng tối rồi cho tiếp xúc với từng chớp sáng cực kỳ ngắn trước khi đo đạc lượng oxy thoát ra. Nếu dòng oxy tuôn trào đều đặn thì mọi chuyện đã không có gì đáng bàn, nhưng thực tế lại diễn biến theo một quy luật vô cùng kỳ lạ.
Lượng oxy nhấp nhô theo một nhịp điệu riêng biệt, vươn lên đạt đỉnh tại chớp sáng thứ ba rồi cứ sau mỗi 4 chớp lại một lần chạm đỉnh.

Giáo sư Pierre Joliot trong văn phòng của ông tại Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp. Ảnh: Pierre Verdy/Getty Images
Dưới góc nhìn của giáo sư Robert Blankenship, chuyên gia nghiên cứu quang hợp tại Đại học Washington (Mỹ), đây chính là cống hiến vĩ đại và đáng nhớ nhất trong sự nghiệp của Giáo sư Joliot. Nhịp đếm 4 lần ấy chứng minh rõ ràng rằng cần phải lấy đi 4 điện tử từ phân tử nước thì mới có thể tổng hợp thành công một phân tử oxy hoàn chỉnh.
Phát hiện mang tính bước ngoặt trên sau này được tôn vinh dưới tên gọi mô hình Kok Joliot, trong đó vinh danh cả Giáo sư Pierre Joliot lẫn nhà lý sinh gốc Hà Lan Bessel Kok, người đã thiết lập khung toán học để diễn giải nhịp dao động độc đáo đó. Hai nhà khoa học vừa là đồng nghiệp thân thiết, vừa là những đối thủ tài năng trên trường quốc tế.
Trong một bài viết được đăng năm 1993 trên tạp chí Photosynthesis Research, Giáo sư Joliot từng hồi tưởng rằng chính đôi bàn tay ông đã thực hiện những thí nghiệm quyết định, còn người đồng nghiệp Bessel Kok đã mang lại góc nhìn lý giải chuẩn xác.
Sự phối hợp ấy minh chứng cho một chuẩn mực đạo đức cao đẹp vẫn luôn tồn tại ngay cả giữa cuộc cạnh tranh khốc liệt trong giới khoa học.
Tiếp nối di sản gia tộc đáng tự hào
Trong một bài tri ân đầy xúc động, Giáo sư Govindjee, người bạn tri kỷ gắn bó gần 6 thập niên tại Đại học Illinois, khẳng định những phát kiến của Giáo sư Pierre Joliot "đã đảo lộn hoàn toàn cách nhân loại thấu hiểu về cách sinh vật thu nhận ánh sáng, vận chuyển điện tử, tách nước và sinh ra nguồn oxy nuôi dưỡng sự sống".

Giáo sư Pierrie Joliot được cựu Tổng thống Pháp Francois Hollande trao tặng huân chương Bắc đẩu Bội tinh hạng Đại sĩ quan vào năm 2012. Ảnh: Remy De La Mauviniere/Getty Images
Giáo sư Govindjee cũng nhấn mạnh, toàn bộ thành tựu của Giáo sư Joliot tỏa sáng rực rỡ bằng chính nội lực chân chính, mà hoàn toàn không cần đến bất kỳ hào quang gia tộc nào che chở.
Hành trình cống hiến bền bỉ của Giáo sư Joliot cũng được ghi nhận xứng đáng qua hàng loạt giải thưởng và danh hiệu cao quý. Năm 1974, ông đảm nhận trọng trách Giám đốc nghiên cứu tại CNRS. Còn từ năm 1981 đến 2002, ông giữ vững chiếc ghế Giáo sư sinh năng học tế bào tại Collège de France, một định chế học thuật lừng danh thành lập từ thế kỷ 16.
Thế giới cũng vinh danh ông làm viện sĩ nước ngoài của Viện Hàn lâm Khoa học Mỹ vào năm 1979, và viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Pháp 3 năm sau đó cùng theo Huy chương Vàng CNRS danh giá.
Năm 2012, Giáo sư Joliot được cựu Tổng thống Pháp Francois Hollande trao tặng huân chương Bắc đẩu Bội tinh hạng Đại sĩ quan. Sau đó 1 năm, Hội Nghiên cứu Quang hợp Quốc tế tiếp tục trao tặng ông giải thưởng Thành tựu trọn đời.
Sức làm việc phi thường của Giáo sư Pierre Joliot dường như không bao giờ suy giảm dẫu tuổi tác đã cao. Người cộng sự từng đồng hành sát cánh suốt 1 thập niên tại viện nghiên cứu, ông Jean Alric, chia sẻ rằng ngay cả khi đã bước qua tuổi 90, vị giáo sư vẫn say sưa nghiên cứu cơ chế điều hòa gen cùng các siêu phức hợp protein trong quang hợp, và đều đặn chấp bút viết các bài báo khoa học.
Sự tận tụy đến cùng ấy khiến bất cứ ai tiếp xúc cũng phải ngả mũ kính trọng trước một trái tim trọn đời vì khoa học.

Giáo sư Pierre Joliot và chị gái Hélène Langevin Joliot. Ảnh: Yves Jacquot
Thuở thanh xuân, Giáo sư Pierre Joliot từng dùng họ ghép Joliot-Curie giống cha mẹ mình, nhưng về sau quyết định chỉ giữ lại họ đơn Joliot. Theo lời kể của giáo sư Govindjee, sinh thời, người cha Frédéric Joliot-Curie từng ấp ủ ý định đăng ký chính thức họ ghép cho toàn bộ gia đình sau khi người vợ qua đời, nhưng dự định ấy vĩnh viễn dang dở khi ông tạ thế vào năm 1958.
Dù mang cái tên nào đi nữa, Giáo sư Joliot vẫn luôn là một nhánh cây kiêu hãnh tiếp nối dòng chảy tri thức của gia đình theo một phong cách rất riêng. Bên cạnh người bạn đời thủy chung và người chị gái tận tụy, hai người con trai Alain và Marc Joliot của ông, cùng các người cháu nội ngoại, đều tiếp tục cống hiến cho khoa học và kế thừa di sản đầy tự hào của gia đình.
Nhận xét về người đồng nghiệp đáng kính, giáo sư Blankenship ví von ông như "thành viên hoàng gia của giới khoa học Pháp, và đã nhận gần như mọi giải thưởng, mọi lời tôn vinh có thể có”. Tuy nhiên, ông vẫn miệt mài cống hiến bên bàn thí nghiệm cho đến tận những ngày cuối cùng của cuộc đời.