Lời tòa soạn: Dọc dải biên cương Tổ quốc, nơi những cột mốc sừng sững giữa ngút ngàn sương gió, có những người lính mang trên vai hai màu áo: quân phục xanh gìn giữ biên cương và áo blouse trắng chở che sự sống. Họ không cầm súng đối mặt với giặc ngoại xâm nơi chiến tuyến, mà ngày đêm căng mình trong cuộc chiến thầm lặng với bệnh tật, hủ tục và ranh giới tử sinh nơi địa đầu hiểm trở.
Giữa sương mù đặc quánh phủ kín những dãy núi đá tai mèo ở vùng biên giới Nậm Pồ (Điện Biên), dáng người nhỏ nhắn chỉ chừng 1m50, nặng vỏn vẹn 45kg của Thiếu tá QNCN, y sĩ Giàng Thị Tâm thoăn thoắt vượt dốc.
Đôi chân dẻo dai lội qua từng con suối cạn, lưng đeo túi thuốc cơ động băng qua những đoạn đường sạt lở, chị bền bỉ như một thân cây rừng bám chặt vào vách đá. Hơn hai mươi năm gắn bó với dải đất biên viễn này, người nữ quân y mang hai dòng máu Mông - Thái đã trở thành điểm tựa sinh mệnh của đồng bào nơi mây ngàn gió núi.
Giàng Thị Tâm sinh năm 1982 tại bản Mường Tùng, tỉnh Điện Biên. Chị lớn lên trong một gia đình có bố là người Mông, mẹ là người Thái. Sự giao thoa văn hóa tự nhiên ấy đã bồi đắp cho chị lợi thế vô giá ngay từ thuở ấu thơ: nghe và nói lưu loát cả tiếng Mông lẫn tiếng Thái, thấu hiểu đến chân tơ kẽ tóc từng phong tục, nếp nghĩ của đồng bào bản địa.
Năm 2002, sau khi tốt nghiệp cấp 3, cô sơn nữ Giàng Thị Tâm được tuyển làm công nhân viên quốc phòng tại Nông trường 1, thuộc Đoàn Kinh tế - Quốc phòng (KTQP) 379 (Quân khu 2). Khởi đầu với công việc nuôi quân nấu ăn, sự cẩn trọng, chỉn chu và tác phong kỷ luật của chị nhanh chóng nhận được sự tin tưởng từ chỉ huy đơn vị.
Nhận thấy đơn vị mới thành lập đang thiếu hụt y tế trầm trọng, Đoàn quyết định cử chị đi học lớp sơ cấp y tá tại Bệnh viện Quân y 109. Đến năm 2006, với khát khao nâng cao tay nghề để cứu người, chị thi đỗ vào Trường Trung cấp Y tế tỉnh Điện Biên. Năm 2008, tốt nghiệp y sĩ đa khoa, chị trở về gắn bó trọn vẹn với Bệnh xá Quân dân y Đoàn KTQP 379 cho đến tận hôm nay.
Nữ y sĩ như Giàng Thị Tâm đã gắn bó với dọc dải biên cương hơn 20 năm.
Thời điểm ấy, địa bàn đóng quân của Đoàn trải dài qua các huyện vùng cao đặc biệt khó khăn, đồng bào dân tộc Mông chiếm tới gần 70%, còn lại là đồng bào Thái, Khơ Mú, Dao... Giữa muôn vàn thử thách nơi miền biên viễn, sự xuất hiện của một nữ y sĩ như Giàng Thị Tâm được xem là “vốn quý” của toàn đơn vị. Bởi ở Bệnh xá, chị là một trong số rất ít cán bộ có thể nghe và nói thông thạo cả tiếng Mông lẫn tiếng Thái, lại am tường sâu sắc từng nếp nghĩ, phong tục tập quán bản địa.
Người thầy thuốc nơi biên thùy không chỉ chữa bệnh bằng kim tiêm, liều thuốc, mà trước hết phải biết làm công tác dân vận, hiểu được lòng dân. Cái gốc gác sinh ra từ núi rừng cùng sự thấu hiểu đồng bào đã biến người nữ quân y nhỏ nhắn trở thành chiếc cầu nối tin cậy đưa bộ đội Cụ Hồ đến gần với bà con.
Thế nhưng, thử thách lớn nhất thuở ban đầu không chỉ nằm ở công việc chuyên môn, mà còn là chuỗi ngày đối mặt với cuộc sống nơi vùng đất "4 không": không điện, không nước sạch, không đường giao thông kiên cố và không sóng điện thoại. Doanh trại khi ấy chỉ là những nếp nhà lợp lá, vách bưng gỗ tạm bợ. Cô sơn nữ vốn quen dùng nước mó, nước suối từ nhỏ, lần đầu tiên khoác áo lính phải tập đào giếng, lóng ngóng múc từng gàu nước sinh hoạt.
Chính giữa những thiếu thốn trăm bề ấy, sự đồng cảm và sẻ chia của người lính thông tin Ngô Huy Phong đã dệt nên mối duyên lành. Năm 2006, họ nên duyên vợ chồng, cùng nhau dựng nếp nhà nhỏ ngay bên sườn núi Nậm Pồ. Hạnh phúc lứa đôi nảy mầm từ gian khó đã trở thành điểm tựa vững chãi nhất để cả hai người lính an tâm cắm rễ, gửi gắm trọn vẹn tuổi thanh xuân vào mảnh đất biên cương.
Khi mới về công tác, chị chứng kiến nhiều gia đình có người ốm là mời thầy mo, thầy cúng về làm lễ kéo dài triền miên từ ngày này qua ngày khác. Tiếng chiêng trống gõ đập đinh tai nhức óc suốt đêm ngày không chỉ làm hao tổn trâu bò, tiền bạc mà còn vắt kiệt chút sức tàn của người bệnh, khiến nhiều người mất đi cơ hội vàng để cứu chữa. Thậm chí, có những phương pháp tự chữa bệnh đầy rủi ro như người Xạ Phang mỗi khi đau đầu, đau xương khớp lại dùng kim nhọn hoặc que giác cúc chọc thẳng vào da thịt để nặn máu.
Vết thương hở không được sát trùng dẫn đến nhiễm trùng, sưng tấy mưng mủ. Khi cán bộ y tế đến vận động, không ít lần gặp phải sự nghi kỵ của các thầy mo và sự xua đuổi của người già trong bản: Mày đi ra ngoài về là không còn coi trọng phong tục nữa, ngày bé mày ốm đau cũng cúng bái mới khỏi đấy thôi…!
Trong tình thế ấy, chính sự am hiểu văn hóa và tiếng nói dân tộc đã trở thành vũ khí dân vận sắc bén nhất của chị Tâm. Không dùng những lý thuyết y khoa xa lạ, chị ngồi bệt bên bếp lửa, trò chuyện bằng chính tiếng Mông, tiếng Thái mộc mạc của đồng bào. Chị lấy tư cách của một người con sinh ra từ núi rừng, mang danh nghĩa của bộ đội để giải thích cho bà con hiểu cái lý: con người bị bệnh là do cơ thể suy kiệt, nhiễm khuẩn chứ không phải do ma rừng nào bắt phạt. Việc cúng bái kéo dài thâu đêm suốt sáng vừa tốn kém trâu bò, vừa làm người bệnh kiệt sức. Muốn sống, muốn khỏe thì phải uống thuốc tây, truyền dịch, phải để bác sĩ chữa trị. Nghe người của bản mình giải thích đúng cái lý, lại thấy bệnh nhân đưa đến bệnh xá uống thuốc là khỏi, bà con dần vỡ lẽ và từng bước từ bỏ tập tục cúng bái mê tín. Chị cũng kiên trì vận động xóa bỏ tập tục phụ nữ sinh con tại nhà, kịp thời đưa những thai phụ có nguy cơ cao đến trạm xá để mổ đẻ an toàn, chấm dứt những cái chết thương tâm của mẹ và bé.
Không chỉ chở che cho dân bản, chiếc cầu nối ngôn ngữ ấy còn vươn sang bên kia biên giới, nơi bệnh xá tiếp giáp với nước bạn Lào. Nhiều người Lào không biết tiếng phổ thông của Việt Nam, nhưng vì họ am hiểu tiếng Thái, chị Tâm nghiễm nhiên trở thành “cầu nối ngoại giao” đặc biệt. Chị vừa thăm khám, vừa kiêm luôn phiên dịch viên y tế, giải thích cặn kẽ từng liều thuốc, viên kháng sinh cho bà con nước bạn.
Chị nhớ mãi ca một cụ ông người Lào ngoài 70 tuổi bị tăng huyết áp và rối loạn tiền đình nặng, người nhà phải dìu đi bộ mất nửa ngày đường rừng mới đến được cửa khẩu, rồi đón xe máy sang bệnh xá. Suốt những ngày ông nằm viện, chị Tâm chăm sóc tận tình, nói chuyện bằng tiếng Thái giúp ông vơi đi nỗi sợ hãi. Hay câu chuyện chị làm điểm tựa tâm lý cho một sản phụ người Lào mới 22 tuổi đã sinh 4 cô con gái, vì áp lực phải có con trai nên hoang mang tính chuyện bỏ thai. Chị Tâm liền ngồi lại, dùng tiếng Thái chuyện trò thân tình như người chị ruột, phân tích an toàn sức khỏe và khuyên nhủ con nào cũng là cốt nhục thiêng liêng. Đôi vợ chồng nghe lời giữ lại mầm sống, và ít lâu sau người chồng quay lại bệnh xá mừng rỡ báo tin vợ đã sinh con trai an toàn.
Bà con bản địa và cả người dân nước bạn yêu quý chị Tâm đến mức thường gọi chị bằng cái tên thân thương: “Cô Tâm Mèo” (cách gọi mộc mạc của người Mông). Mỗi lần sang khám bệnh hay có dịp ghé qua, người ta lại mang theo con gà, vỉ cá suối sấy khô, nải chuối rừng hay bắp ngô nếp luộc để dúi vào tay chị: “Không bán đâu, cái này để dành riêng cho cô Tâm đấy”!
Trong ký ức của người nữ quân y, ca bệnh để lại dấu ấn sâu đậm nhất, tiếp thêm ngọn lửa nhiệt huyết để chị gắn bó trọn đời với nghề, chính là lần cứu sống một em học sinh bị đuối nước khi chị vừa tốt nghiệp lớp y tá chưa được bao lâu. Hôm ấy, một nhóm học sinh rủ nhau ra khúc suối gần đơn vị tắm mát thì không may có em bị chìm dưới dòng nước xiết. Nghe tiếng người dân hoảng hốt kêu cứu chạy sang báo tin, chị Tâm cùng các y bác sĩ trong kíp trực lập tức lao thẳng ra bờ suối. Nạn nhân được vớt lên trong tình trạng tím tái, ngừng thở, cơ thể lạnh ngắt.
Lần đầu tiên trực tiếp đối mặt với ranh giới sinh tử mong manh, bàn tay người y tá trẻ không khỏi run lên vì áp lực. Nhưng dưới sự hướng dẫn bình tĩnh của đồng đội đi trước, chị dồn hết sức lực để giữ lại mạng sống cho em học sinh. Sau những giây phút căng thẳng đến nghẹt thở, lồng ngực đứa trẻ bỗng phập phồng trở lại, em trào nước ra ngoài và cất tiếng thở yếu ớt. Giây phút ấy, cả kíp trực như vỡ òa. Nhìn giọt nước mắt nghẹn ngào của gia đình cháu bé, chị Tâm nhận ra giá trị thiêng liêng của màu áo blouse mình đang mang: mỗi nhịp đập giành lại được nơi rừng sâu chính là một số phận, một mái ấm được hồi sinh trọn vẹn.
Y sĩ Giàng Thị Tâm cùng cán bộ Đoàn KTQP 379 trao quà hỗ trợ cho cháu Giàng Thị Phóng và các gia đình có hoàn cảnh khó khăn tại địa phương.
Bên cạnh ký ức đặc biệt ấy, suốt hơn hai thập kỷ qua, chị Tâm còn trải qua không ít lần chạy đua nghẹt thở để giành lại sự sống cho đồng bào. Đó là ca cấp cứu người ăn lá ngón tự tử vào mùa đông năm 2016. Chị Thào Thị Máy (bản Phìn Hồ) do giận chồng đã hái lá ngón ăn ven đường. Tiếp nhận bệnh nhân giữa đêm lạnh buốt trong điều kiện bệnh xá thiếu máy móc, chị Tâm và kíp trực phải dùng biện pháp dã chiến: lấy cọng lông gà ngoáy sâu vào họng kích thích nôn khẩn cấp, sau đó súc ruột, rửa độc tố. Sau 4 ngày điều trị tích cực, chị Máy bình phục, ôm chầm lấy nữ y sĩ khóc nấc vì được sinh ra lần thứ hai. Đó còn là ca đỡ đẻ giữa đêm đông năm 2018 cho sản phụ trẻ Sùng Thị Pàng (19 tuổi, xã Si Pa Phìn) chuyển dạ sớm, thai tím tái; hay vụ tai nạn giao thông chập tối giáp Tết 2019, chị phóng xe máy giữa mưa phùn buốt giá khâu liền 7 mũi cứu sống anh Vàng A Công bị rách toạc đùi nằm co quắp ven đường.
Nhưng thử thách lớn nhất đối với người nữ quân y là những hiểm nguy rình rập trên cung đường cơ động. Có lần đi làm nhiệm vụ dân vận và khám bệnh về lúc chập choạng tối, trời mưa rừng tầm tã, đường quốc lộ bất ngờ sạt lở dữ dội. Thấy một chiếc xe máy của người dân bị vùi lấp bùn đất, chị cùng đồng đội xúm vào kéo ra thì đất đá từ trên taluy dương ầm ầm đổ sập xuống. Cả đoàn chỉ kịp hô nhau vứt xe tháo chạy thoát thân trong gang tấc. Trượt ngã, bùn đất lấm lem toàn thân, nhưng vừa về đến đơn vị, nghe tin có ca bệnh khẩn cấp, chị lại vội vã khoác áo blouse trắng bước vào phòng trực.
Phía sau màu áo lính kiên cường là một người phụ nữ với thiên chức làm mẹ đầy hy sinh. Cả hai vợ chồng đều công tác trong quân đội, những đợt trực chiến hay đi cắm bản dài ngày đồng nghĩa với việc các con phải sớm tự lập. Khoảnh khắc khiến chị nghẹn ngào nhất là đợt bùng phát dịch COVID-19. Chồng chị cắm chốt chống dịch trong đơn vị, bản thân chị phải trực 24/24 tại bệnh xá để cách ly và chăm sóc bệnh nhân. Khi ấy, đứa con lớn mới học cấp hai phải ở nhà thui thủi một mình, còn đứa con thứ hai đang học lớp 4 phải đi cách ly tập trung theo diện học sinh của trường.
Giữa đêm đông lạnh giá, nhìn con người ta có bố mẹ đi cùng, còn con mình chỉ biết ôm gối khóc nấc gọi mẹ qua màn hình điện thoại vì nhớ hơi ấm, lòng người mẹ như thắt lại từng khúc ruột. “Lúc đó cảm giác tủi thân và bất lực đến cùng cực, tưởng như không thể vượt qua nổi. Nhưng mình là người lính, nhiệm vụ của đơn vị và sự an nguy của nhân dân đang ở phía trước, đành gạt nước mắt động viên con ráng chịu đựng” - chị Tâm ngậm ngùi nhớ lại.
Trải qua những hy sinh của riêng mình, người nữ quân y càng thêm bao bọc những đứa trẻ thiệt thòi nơi núi cao. Với cương vị Chủ tịch Hội Phụ nữ cơ sở của Đoàn KTQP 379, thực hiện chương trình “Mẹ đỡ đầu”, chị cùng Hội Phụ nữ đơn vị đã nhận đỡ đầu cháu Giàng Thị Phóng ở Pháng Chủ - xã Phìn Hồ (cũ) nay là bản Địa Tinh, xã Si Pa Phìn. Cháu Phóng có hoàn cảnh vô cùng éo le: bố mất sớm, mẹ đi lấy chồng khác, mấy anh chị em côi cút không nhà cửa, phải dựng lán ở nhờ trên đất của người cậu ruột, nguy cơ bỏ học giữa chừng hiện hữu từng ngày.
Thấu hiểu hoàn cảnh, chị Tâm đã tham mưu cho Đảng ủy, chỉ huy Đoàn và phối hợp cùng Đội sản xuất số 1 hỗ trợ ngày công dựng nhà, trích quỹ trao tặng sổ tiết kiệm 10 triệu đồng cho cháu. Đều đặn mỗi tháng, chị cùng đơn vị trích kinh phí hỗ trợ 500.000 đồng mua sách vở, bút mực, đồng thời mang vào tận bản 20kg gạo và nhu yếu phẩm cho gia đình, giúp cháu Phóng kiên trì theo học hết lớp 9. Ngoài ra, chị còn tích cực vận động các nhà hảo tâm và cán bộ nhân viên trong bệnh xá quyên góp gạo, mì tôm, mắm muối trao tặng cho các hộ gia đình đặc biệt khó khăn tại bản Pháng Chủ.
Hơn 20 năm trôi qua, từ cô gái trẻ bỡ ngỡ ngày đầu đặt chân đến Nông trường 1 đến người nữ y sĩ dạn dày sương gió, thanh xuân của Giàng Thị Tâm đã hòa vào màu xanh ngút ngàn của núi rừng Nậm Pồ. Khi được hỏi liệu có khi nào chị nghĩ đến việc xin chuyển về một nơi xuôi hơn, bớt nhọc nhằn hơn, chị chỉ mỉm cười hiền hậu: “Cả hai vợ chồng tôi đều là bộ đội, con cái sinh ra và lớn lên ở đây, bà con dân bản thì coi mình như con em ruột thịt. Biên cương này đã là quê hương thứ hai rồi. Chừng nào đôi chân còn dẻo dai leo được dốc, bàn tay còn cầm được kim tiêm, tôi vẫn sẽ ở lại nơi này để chăm lo cho sức khỏe của đồng bào”.
Rời dải biên cương phía Bắc, men theo dãy Trường Sơn hùng vĩ xuôi về miền Trung, nơi những nóc nhà của đồng bào Cơ Tu nép mình bên vách đá cheo leo của “cổng trời” A Xan (Tây Giang, Quảng Nam), cũng có một người thầy thuốc quân y đã dành trọn cả tuổi trẻ như thế. Anh không chỉ coi biên giới là quê hương; bằng tình yêu thương và y đức thuần khiết, anh đã trở thành người anh, người con ruột thịt trong từng nếp nhà sàn nơi dải đất biên cương...
Mời độc giả đón đọc kỳ 2: “Người anh ruột thịt” nơi cổng trời Tây Giang









