Khống chế gia tăng bệnh đái tháo đường - Cách gì?

Thời sự
Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm dẫn đến tàn phế hoặc tử vong; là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến giảm tuổi thọ.

Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm dẫn đến tàn phế hoặc tử vong; là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến giảm tuổi thọ. Tuy nhiên, bệnh hoàn toàn có thể phòng tránh được ở cộng đồng nếu được phát hiện sớm và tác động vào thói quen sinh hoạt; lối sống để khống chế sự gia tăng của bệnh và các biến chứng...

Việt Nam đang trở thành một quốc gia có tỷ lệ người mắc bệnh ĐTĐ tăng nhanh nhất thế giới

Bệnh ĐTĐ, trong đó chủ yếu là ĐTĐ týp 2, chiếm từ 85 - 95% số bệnh nhân mắc bệnh này, đang là một trong những bệnh không lây phổ biến nhất trên toàn cầu. Hiện nay, bệnh ĐTĐ týp 2 được coi là một dịch bệnh ở nhiều nước đang phát triển và những nước mới công nghiệp hoá. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): năm 2007 toàn thế giới có 246 triệu người mắc bệnh ĐTĐ. Dự báo đến năm 2025 sẽ có 333 triệu người mắc bệnh ĐTĐ (chiếm 5,4% dân số thế giới)

 Đăng ký khám và tư vấn về đái tháo đường.
Khu vực ASEAN, tùy thuộc vào tốc độ phát triển kinh tế của mỗi nước mà tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ cũng khác nhau, Singapore là nước có tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ tăng rất nhanh: năm 1975 là 1,9%; năm 1984 là 4,7%; năm 1998 đã lên đến 9%. Các chuyên gia của WHO nhận thấy: trung bình cứ khoảng 15 năm thì tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ týp 2 lại tăng lên gấp đôi.

ĐTĐ là bệnh có tính chất dân tộc và chủng tộc, có tốc độ phát triển rất nhanh ở các nước đang phát triển, nơi mà chỉ trong một thời gian ngắn, nền kinh tế của các quốc gia này chuyển đổi nhanh chóng từ những nước kém phát triển có mức sống nghèo sang đô thị hóa, phát triển nhanh chóng về khoa học, kỹ thuật và kinh tế. Cùng với sự giàu lên của người dân và sự thay đổi quá nhanh về chất lượng bữa ăn, điều kiện làm việc dẫn đến xu hướng thay đổi về lối sống, ít hoạt động thể lực là những yếu tố cơ bản làm cho tốc độ gia tăng nhanh chóng của bệnh ĐTĐ ở các quốc gia này.

Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, nên cũng không nằm ngoài quy luật đó. Tuy không phải là nước có tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ cao nhất thế giới nhưng Việt Nam lại là quốc gia có tốc độ phát triển khá nhanh căn bệnh này. Theo số liệu điều tra những năm đầu thập kỷ 90, tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ tại Hà Nội, Huế, TP. Hồ Chí Minh tương ứng là 1,2%, 0,96% và 2,52%. Điều tra năm 2002, tỷ lệ mắc ĐTĐ chung toàn quốc là 2,7%; trong đó, ở khu vực thành thị là 4,4%; miền núi là 2,1%; đồng bằng là 2,7%. Đến năm 2008, theo kết quả điều tra toàn quốc, tỷ lệ mắc ĐTĐ chung toàn quốc đã là 5%.

Như vậy, với những số liệu trên đã cho chúng ta thấy: Việt Nam đang trở thành thành viên của nhóm quốc gia có tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ tăng nhanh nhất thế giới.

Hơn 60% bệnh nhân ĐTĐ ở Việt Nam không được phát hiện và điều trị kịp thời

Trong khi bệnh ĐTĐ phát triển với tốc độ như vậy thì nhận thức của cộng đồng về bệnh ĐTĐ, nhất là kiến thức phòng bệnh lại rất thấp, trên 80% số người tham gia nghiên cứu không hiểu các yếu tố nguy cơ gây bệnh; không có kiến thức phòng bệnh. Do nhận thức về bệnh tật thấp, cũng như hạn chế của mạng lưới y tế nên tỷ lệ mắc ĐTĐ không được phát hiện trong cộng đồng còn cao (64,5%); cao nhất là ở Yên Bái có tỉ lệ này là 69,7%.

Nhiều người dân hoàn toàn không hiểu về bệnh ĐTĐ, hoặc hiểu rất sai, đồng thời chưa quan tâm đầy đủ đến sức khỏe của bản thân và gia đình. Một số cán bộ y tế còn giữ quan niệm về bệnh ĐTĐ là khi nước tiểu có đường kèm theo triệu chứng “4 nhiều” (ăn – uống – đái – gầy nhiều) mà không biết rằng giai đoạn chưa có các triệu chứng nói trên có thể kéo dài tới 5 hay 10 năm, đến khi phát hiện được bệnh trên lâm sàng thì có thể bệnh đã ở vào giai đoạn muộn, thường kèm theo nhiều biến chứng. Lỗi này chủ yếu do công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức, cộng với trình độ dân trí chung còn thấp. Việc khám sức khỏe cho cộng đồng không được tiến hành thường xuyên, định kỳ, do chất lượng chưa cao của mạng lưới y tế cơ sở. Một số thầy thuốc đa khoa khi khám bệnh nhiều khi cũng không nghĩ tới bệnh ĐTĐ ở các đối tượng có yếu tố nguy cơ để tư vấn, hướng dẫn phát hiện bệnh sớm. Việc quản lý bệnh ĐTĐ mới chỉ tập trung ở một vài trung tâm y tế quốc gia; số cán bộ y tế có khả năng khám và điều trị bệnh ĐTĐ không chỉ thiếu về mặt số lượng, mà còn không được phổ cập những kiến thức mới về bệnh ĐTĐ, nên chất lượng phát hiện và điều trị bệnh ĐTĐ chưa tốt. Công tác phòng bệnh ĐTĐ hầu như chưa được đề cập, do chưa đánh giá được tình hình bệnh tật cũng như quan niệm và thực hành phòng bệnh ĐTĐ týp 2 chưa đúng.

Triển khai các biện pháp khống chế hữu hiệu để phòng bệnh ĐTĐ týp 2

ĐTĐ týp 2 là bệnh khởi phát do sự tác động qua lại giữa yếu tố môi trường và yếu tố gen, liên quan nhiều đến thói quen sinh hoạt, lối sống. Vì thế bệnh hoàn toàn có thể phòng tránh được. Cách phòng bệnh hợp lý nhất, có hiệu quả kinh tế nhất là hướng dẫn chế độ ăn uống và luyện tập phù hợp. Việc tác động vào thói quen sinh hoạt và lối sống để khống chế sự gia tăng của bệnh đã được chứng minh qua nhiều công trình nghiên cứu khoa học trên thế giới và ở Việt Nam. Đối với những người mang yếu tố nguy cơ, nếu được giáo dục, tuyên truyền để họ hiểu đúng về nguy cơ mắc bênh, thay đổi thói quen, tập quán ăn uống, sinh hoạt có hại thì hoàn toàn có thể tránh khỏi mắc bệnh ĐTĐ. Những người đã bị bệnh ĐTĐ nếu được phát hiện sớm, được giáo dục về chế độ ăn uống, luyện tập và dùng thuốc để quản lý, điều trị tích cực thì sẽ hạn chế được các biến chứng nguy hiểm do bệnh gây nên. Trên thế giới đã thành lập các liên minh, hiệp hội như IDF, AHA, ADA, NCEP..., hướng dẫn tổ chức phòng chống các bệnh không lây nhiễm, rối loạn chuyển hóa, ĐTĐ theo các mô hình chung và đặc thù ở mỗi quốc gia. Trên thực tế, chi phí cho việc phòng bệnh ĐTĐ thấp hơn nhiều lần so với chi phí để điều trị bệnh ĐTĐ và các biến chứng của bệnh gây nên.

Vì tính phố biến, mức độ nguy hiểm của các bệnh không lây nhiễm và ĐTĐ đối với sức khỏe cộng đồng, vì sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, năm 2002, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 77/2002/QĐ-TTg ngày 17/6/2006 về việc phê duyệt Chương trình phòng chống một số bệnh không lây nhiễm giai đoạn 2002-2010, theo đó ngành y tế phải phấn đấu quản lý được 100% bệnh nhân đái tháo đường.

Dự án Phòng chống đái tháo đường Quốc gia - Bệnh viện Nội tiết Trung ương.

TS. Nguyễn Vinh Quang (Phó GĐ Bệnh viện Nội tiết TW)

Ngày 19/12/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 172/2008/QĐ-TTg chính thức phê duyệt Dự án phòng chống bệnh ĐTĐ thành Dự án mục tiêu Quốc gia giai đoạn 2008 - 2010 thuộc “Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AIDS, giai đoạn 2006-2010”.

Mục tiêu của Dự án mục tiêu quốc gia phòng chống bệnh ĐTĐ năm 2009 là:

- Đào tạo và đào tạo lại số cán bộ tuyến cơ sở tham gia dự án, đảm bảo 100% cán bộ tuyến tỉnh thành thạo về sàng lọc các đối tượng yếu tố nguy cơ cao tại cộng đồng và tư vấn thường xuyên cho các đối tượng có yếu tố nguy cơ cao. Mong muốn 20% các bác sĩ tuyến tỉnh tham gia điều trị bệnh nội tiết, nắm vững chẩn đoán và điều trị bệnh ĐTĐ.

- Khám sàng lọc phát hiện đối tượng có yếu tố nguy cơ cao gây bệnh ĐTĐ ở cộng đồng, tăng cường quản lý các đối tượng có yếu tố nguy cơ cao, hàng tháng tư vấn dinh dưỡng và luyện tập làm giảm tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ. Đảm bảo 70% số đối tượng có yếu tố nguy cơ được tư vấn sau sàng lọc.

- Bước đầu đẩy mạnh công tác truyền thông, làm thay đổi hành vi về lối sống, dinh dưỡng và luyện tập góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về phòng chống ĐTĐ.

- Tiếp tục duy trì và củng cố mạng lưới các đơn vị dự phòng ĐTĐ trên cơ sở là nền tảng của các đơn vị PC CRLTI trước đây.

Tăng cường xã hội hóa và vận động mọi tầng lớp trong xã hội tham gia đóng góp nhân lực, vật lực để đẩy mạnh triển khai các hoạt động của Dự án mục tiêu quốc gia phòng chống bệnh ĐTĐ.


Ý kiến của bạn