Nhằm cung cấp bức tranh tổng thể về kết quả bước đầu triển khai quy định mới, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã hoàn thiện Báo cáo tình hình thực hiện Nghị định số 238/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập; giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo.
Báo cáo tập trung làm rõ những vấn đề phát sinh trong thực tiễn, đặc biệt là việc cân đối nguồn lực thực hiện chính sách miễn, hỗ trợ học phí và thực trạng mức thu học phí của khối giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học công lập; trên cơ sở đó kiến nghị các giải pháp hoàn thiện cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện trong giai đoạn tiếp theo.
Thực trạng học phí phân hóa theo mức độ tự chủ
Nghị định số 238/2025/NĐ-CP tiếp tục cụ thể hóa chủ trương đổi mới cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập, gắn lộ trình điều chỉnh học phí với mức độ tự chủ tài chính của cơ sở giáo dục đại học, đồng thời từng bước thực hiện nguyên tắc tính đúng, tính đủ chi phí đào tạo theo quy định của Luật Giá năm 2023. Theo quy định, mức trần học phí đối với các cơ sở chưa tự bảo đảm chi thường xuyên (Nhóm 3, Nhóm 4) được quy định cố định theo từng nhóm ngành. Đối với các cơ sở tự bảo đảm chi thường xuyên (Nhóm 2) hoặc tự bảo đảm cả chi thường xuyên và chi đầu tư (Nhóm 1), mức trần học phí được xác định theo hệ số tương ứng trên cơ sở mức trần của nhóm chưa tự chủ.
Đồng thời, Nghị định cho phép các chương trình đào tạo đã qua kiểm định chất lượng giáo dục được xác định mức học phí trên cơ sở định mức kinh tế - kỹ thuật và chi phí đào tạo thực tế.

Định mức học phí đối với cơ sở giáo dục đại học công lập năm học 2025- 2026 theo các mức tự chủ Đơn vị: Nghìn đồng/người học/tháng. Nguồn: Bộ GD&ĐT
Khảo sát từ 58 cơ sở giáo dục đại học (gồm 1 cơ sở Nhóm 4, 9 cơ sở Nhóm 1, 10 cơ sở Nhóm 2 và 38 cơ sở Nhóm 3) cho thấy mức thu học phí có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm ngành đào tạo và giữa các cơ sở có mức độ tự chủ tài chính khác nhau.
Đối với nhóm cơ sở tự chủ tài chính (Nhóm 1 và Nhóm 2), mức học phí thực tế nhìn chung vẫn thấp hơn mức trần cho phép, tỷ lệ học phí bình quân so với mức trần dao động từ khoảng 50% đến 100%. Đáng chú ý, các nhóm ngành Nghệ thuật, Khoa học tự nhiên và Y học - Dược học luôn duy trì ở mức cao, đạt trên 90% trần quy định. Phần lớn các trường hợp học phí vượt trần đều thuộc các chương trình đào tạo đã qua kiểm định chất lượng theo các bộ tiêu chuẩn quốc tế (AUN-QA, ASIIN, AQAS, CTI) hoặc tiêu chuẩn trong nước.
Đối với nhóm cơ sở chưa tự bảo đảm chi thường xuyên (Nhóm 3 và Nhóm 4), mức học phí thực tế của phần lớn các ngành đào tạo đang ở mức tiệm cận hoặc bằng mức trần quy định, với tỷ lệ học phí bình quân so với mức trần dao động từ 99% đến 103% ở hầu hết các nhóm ngành. Điều này cho thấy dư địa điều chỉnh học phí của nhóm cơ sở này không còn nhiều trong khuôn khổ hiện hành.
Mặt bằng học phí khối ngành Sức khỏe cao nhất
Báo cáo của Bộ GD&ĐT ghi nhận, khối ngành Sức khỏe có mặt bằng học phí cao nhất trong tất cả các nhóm ngành đào tạo. Nhiều chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực y khoa, dược học, răng hàm mặt, điều dưỡng và kỹ thuật y học đang áp dụng mức học phí cao hơn đáng kể so với các nhóm ngành khác.
Tại các cơ sở tự bảo đảm chi thường xuyên, học phí tối đa của nhóm ngành Điều dưỡng, Kỹ thuật y học, Y tế công cộng đạt 82,2 triệu đồng/người học/năm (tương đương 174,2% mức trần); đối với nhóm ngành Y học và Dược học đạt 79,5 triệu đồng/người học/năm (tương đương 127,8% mức trần).
Tại nhóm cơ sở chưa tự bảo đảm chi thường xuyên (Nhóm 3, Nhóm 4), mức học phí bình quân của các ngành Sức khỏe cũng vượt xa các nhóm ngành còn lại. Tỷ lệ học phí bình quân so với mức trần của nhóm ngành Điều dưỡng, Kỹ thuật y học, Y tế công cộng đạt 152,9%, trong khi mức tối đa lên tới 273,3%; đối với nhóm ngành Y học và Dược học, tỷ lệ tương ứng là 139,9% và 196,5%. Trong khi đó, phần lớn các nhóm ngành khác chỉ dao động quanh mức trần hoặc thấp hơn mức trần quy định.
Thực tế này phản ánh đặc thù của khối ngành Sức khỏe với yêu cầu cao về thực hành, thực tập lâm sàng, hệ thống cơ sở thực hành tại bệnh viện, trang thiết bị chuyên môn, vật tư tiêu hao và đội ngũ giảng viên có trình độ chuyên sâu. Đây cũng là nhóm ngành có chi phí đào tạo thực tế cao nhất trong hệ thống giáo dục đại học hiện nay.
Qua khảo sát, một số cơ sở đào tạo như Trường Đại học Y Hà Nội và Trường Đại học Y Dược - Đại học Huế cho rằng việc xếp ngành Răng - Hàm - Mặt vào cùng nhóm học phí với Điều dưỡng, Hộ sinh, Dinh dưỡng và Kỹ thuật y học chưa phản ánh đầy đủ đặc thù đào tạo của ngành. Chương trình Bác sĩ Răng - Hàm - Mặt có yêu cầu về kiến thức chuyên môn, thời lượng thực hành lâm sàng, cơ sở vật chất và chi phí đào tạo tương đương với ngành Y học. Do đó, các cơ sở kiến nghị nghiên cứu điều chỉnh ngành Răng - Hàm - Mặt sang cùng nhóm học phí với ngành Y học và Dược học nhằm phù hợp hơn với chi phí đào tạo thực tế và yêu cầu bảo đảm chất lượng đào tạo.