Ngày 9/4/2009, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 52/2009/QĐ/TTg về việc phê duyệt Đề án Kiểm soát dân số các vùng biển, đảo và ven biển giai đoạn 2009-2020. Sau 7 tháng bắt tay vào thực hiện Đề án, tuy công việc còn nhiều bộn bề, nhưng nhiều phần việc quan trọng được thực hiện, nhiều tỉnh, thành có dự án đã triển khai ngay những công việc xuống địa bàn dân cư. Báo SK&ĐS đã có cuộc trao đổi với PGS.TS. Đỗ Ngọc Tấn, Phó Vụ trưởng phụ trách Vụ Dân số - Kế hoạch hoá gia đình (DS-KHHGĐ), Giám đốc Ban Quản lý đề án Kiểm soát dân số các vùng biển, đảo và ven biển, Tổng cục DS-KHHGĐ.
PV: Ông có thể cho biết mục đích của việc cho ra đời Đề án Kiểm soát dân số các vùng biển, đảo và ven biển trong chiến lược về DS-KHHGĐ (gọi tắt là Đề án 52), vai trò của Đề án 52 trong chiến lược về DS-KHHGĐ Việt Nam?
PGS. TS. Đỗ Ngọc Tấn: Biển có vai trò rất quan trọng đối với các nước có biển nói riêng và thế giới nói chung. Thế kỷ XXI được thế giới xem là "Thế kỷ của đại dương". Việt Nam có đến 3.260km chiều dài bờ biển với 28 tỉnh, thành phố có biển. Diện tích chủ quyền trên biển rộng khoảng 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích đất liền, nằm ở vị trí thuận lợi để giao thương quốc tế và có trữ lượng khoáng, hải sản rất đa dạng và phong phú.
Nhận thức rõ tầm quan trọng to lớn của biển đối với sự phát triển của đất nước, ngay từ những năm 90, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chính sách về biển và các lĩnh vực liên quan đến biển trong đó có Chiến lược Dân số - KHHGĐ.
Trong thời gian qua, những thành tựu của công tác DS-KHHGĐ đã góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên ở các vùng biển, đảo và ven biển hiện nay quy mô dân số đã hơn 29 triệu người, chiếm khoảng 34,6% dân số cả nước; Mật độ dân số cao 373 người/km2, gấp 1,5 lần mật độ dân số trung bình của cả nước, trong khi người dân tập trung sinh sống chủ yếu ở khu vực thành thị và khu kinh tế. Tỷ suất sinh, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên của các huyện đảo và ven biển cao hơn các huyện khác trong cùng tỉnh và cao hơn mức bình quân của cả nước. Đặc biệt, khu vực Bắc Trung Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ còn tới 13/28 tỉnh, thành phố ven biển, chiếm khoảng 44% dân số biển chưa đạt mức sinh thay thế, trong khi cả nước từ năm 2006 đến nay đã đạt mức sinh thay thế (dưới 2,1 con). Nhu cầu sinh con của các cặp vợ chồng vùng biển còn cao, nhất là sinh con trai. Chất lượng dân số còn thấp, số trẻ em sinh ra bị dị tật, dị dạng và thiểu năng trí tuệ còn đáng lo ngại.
Chương trình mục tiêu quốc gia DS - KHHGĐ đã đạt được những kết quả rất đáng ghi nhận, dù không tách rời các vùng biển, đảo và ven biển nhưng cũng chưa tính đến việc giải quyết những đặc thù riêng về địa lý, kinh tế, xã hội và tập quán khác nhau giữa các vùng. Người dân sinh sống tại vùng biển, đảo và ven biển chưa có nhiều cơ hội và điều kiện được tiếp cận và được hưởng thụ đầy đủ các chính sách và dịch vụ xã hội cơ bản trong đó có các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ nói chung, sức khoẻ sinh sản và KHHGĐ nói riêng vì vậy Đề án 52 là một giải pháp quan trọng để góp phần thực hiện thành công chính sách DS - KHHGĐ.
PV: Ông có thể giới thiệu cho bạn đọc những mục tiêu chính của Đề án Kiểm soát dân số các vùng biển, đảo và ven biển?
PGS.TS. Đỗ Ngọc Tấn: Một số mục tiêu chính của Đề án là, quy mô dân số các vùng biển, đảo, ven biển không vượt quá 32 triệu người vào năm 2010, 34 triệu người vào năm 2015 và 37 triệu người vào năm 2020. Tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại các vùng biển, đảo và ven biển áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại đạt 70% vào năm 2010, 72% từ năm 2015 - 2020. Tỷ lệ người làm việc và người dân sinh sống trên đảo, ven biển, trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu du lịch, khu kinh tế thuộc khu vực đảo, ven biển và trên biển được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em SKSS - KHHGĐ đạt 60% vào năm 2010, 80% vào năm 2015 và 95% vào năm 2020...
PV: Sau 7 tháng bắt tay vào thực hiện Đề án, những việc đã làm được của Ban quản lý cấp Trung ương là gì, để nhanh chóng đáp ứng đúng yêu cầu và mục tiêu của Thủ tướng Chính phủ đã đặt ra, thưa ông?
PGS.TS. Đỗ Ngọc Tấn: Song song với kiện toàn tổ chức của Ban quản lý, chúng tôi đã nhanh chóng bắt tay vào việc phối hợp với các cơ quan tư vấn tiến hành điều tra, khảo sát ban đầu như : Đánh giá thông tin cơ bản về truyền thông giáo dục đặc thù của vùng biển, đảo, ven biển; Xây dựng bản đồ về dân số, năng lực mạng lưới y tế tại địa bàn Đề án; Khảo sát các yếu tố phong tục tập quán và nghề nghiệp tác động tới thái độ và hành vi sinh sản của người dân vùng biển, ven biển... Đồng thời cùng các cơ quan tư vấn thực hiện việc thiết kế các mô hình can thiệp như: thiết kế, thử nghiệm mô hình cung cấp dịch vụ và tư vấn về chăm sóc sức khỏe BMTE, SKSS/KHHGĐ cho người làm việc tại khu công nghiệp, khu chế xuất, khu du lịch, ở các vùng biển, đảo và ven biển... Bên cạnh đó, xác định công tác truyền thông là vô cùng quan trọng trong thực hiện Đề án, chúng tôi đã bắt tay thực hiện thiết kế và xây dựng các tài liệu tuyên truyền vận động như: Xây dựng tài liệu vận động cung cấp cho lãnh đạo cơ sở, tổ chức chính trị xã hội trên địa bàn triển khai thực hiện Đề án; Biên soạn và nhân bản cuốn thông điệp vận động và truyền thông chuyển đổi hành vi về kiểm soát dân số các vùng biển, đảo và ven biển. Đặc biệt, tới đây chúng tôi sẽ tổ chức sự kiện truyền thông với chủ đề: Mẹ và những người con của biển, tại Quảng Ninh vào ngày 28 và 29/11/2009...
PV: Thế còn 28 địa phương, những tỉnh trực tiếp thụ hưởng Đề án này, thưa ông?
PGS.TS. Đỗ Ngọc Tấn: Ban quản lý đề án cấp Trung ương thường xuyên đôn đốc các địa phương nhanh chóng bắt tay triển khai thực hiện. Hoạt động đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, KHHGĐ được các địa phương tổ chức tập huấn cho cán bộ truyền thông và cán bộ tư vấn về nâng cao dân số khi sinh, khảo sát các yếu tố nguy cơ; tổ chức chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em, hỗ trợ khi sinh và sau sinh một số nơi làm khá tốt. Hoạt động tăng cường nâng cao hiệu quả truyền thông được các tỉnh có dự án triển khai nhanh và mạnh. Hầu hết các địa phương đều tổ chức sản xuất và phát hành tài liệu truyền thông, tổ chức tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, tuyên truyền trên hệ thống truyền thanh của các xã ven biển, xã đảo, đã làm khiến người hiểu biết thêm về dự án và nâng cao năng lực hành vi cho người dân...
PV: Với những công việc đã làm được trong thời gian qua, xin ông cho biết mục tiêu cụ thể của năm 2010 mà Đề án cần thực hiện và các giải pháp, định hướng chính?
PGS.TS. Đỗ Ngọc Tấn: Mục tiêu cụ thể mà chúng tôi sẽ triển khai trong năm 2010 là: Quy mô dân số các vùng biển, đảo và ven biển không vượt quá 32 triệu người; Tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại các vùng biển, đảo và ven biển áp dụng các biện pháp tránh thai hiện đại đạt 70%; Tỷ lệ người làm việc và người dân sinh sống trên đảo, ven biển, trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu du lịch, khu kinh tế thuộc khu vực đảo, ven biển và trên biển được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em, chăm sóc sức khoẻ sinh sản, KHHGĐ đạt 60%; Tỷ lệ trẻ em tại các vùng biển, đảo và ven biển bị dị dạng, dị tật và thiểu năng trí tuệ do rối loạn chuyển hoá và do di truyền giảm khoảng 5% so với năm 2009; Hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý để cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác thông tin, số liệu về dân số và KHHGĐ tại các vùng biển, đảo và ven biển, đáp ứng yêu cầu quản lý, điều hành chương trình DS-KHHGĐ, yêu cầu xây dựng quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và TW. Về định hướng và các giải pháp thực hiện kế hoạch 2010 là: Tiếp tục củng cố, kiện toàn và nâng cao năng lực tổ chức bộ máy quản lý thực hiện Đề án từ Trung ương đến địa phương; Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền vận động nhằm tạo thuận lợi về môi trường chính sách, đầu tư nguồn lực và tạo dư luận xã hội cho tổ chức thực hiện Đề án. Chú trọng kênh truyền thông trực tiếp, lấy đội ngũ cộng tác viên và tuyên truyền viên DS-KHHGĐ, y tế cơ sở làm lực lượng chủ đạo. Mở rộng các mô hình can thiệp có hiệu quả, xây dựng các mô hình can thiêp mới phù hợp trong việc đáp nhu cầu chăm sóc sức khỏe BMTE/KHHGĐ. Ưu tiên tổ chức đội lưu động y tế - KHHGĐ tuyến huyện. Củng cố hệ thống thu thập dữ liệu, thông tin phục vụ việc xây dựng kế hoạch, quản lý và tổ chức triển khai hoạt động. Tăng cường, phối hợp kiểm tra, giám sát và hỗ trợ kỹ thuật cho các địa phương để thực hiện các nhiệm vụ và các hoạt động của Đề án 52.
PV: Xin cảm ơn ông!
Ngô Anh (thực hiện)