Cần xây dựng chiến lược quốc gia về công nghệ giám sát ven biển
Sáng ngày 28/1, Trường Đại học Intracom phối hợp với Viện Khoa học và Bổ trợ pháp lý, thuộc Liên hiệp Hội Người khuyết tật Việt Nam, tổ chức hội thảo "Thúc đẩy ứng dụng khoa học và công nghệ vào cuộc sống - Từ lý thuyết đến thực tiễn".
GS.TS Trần Phương Đạt, Trưởng Khoa Luật, Trường Đại học Intracom, cho rằng trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số, khoa học và công nghệ đã trở thành động lực cốt lõi giúp các quốc gia nâng cao năng lực cạnh tranh và ứng phó thách thức toàn cầu. Tuy nhiên, vẫn tồn tại khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn. Hội thảo nhằm tạo diễn đàn đa ngành, thúc đẩy chuyển giao tri thức, mở rộng hợp tác và đóng góp hoàn thiện chính sách.

GS.TS Trần Phương Đạt, Trưởng Khoa Luật, Trường Đại học Intracom chủ trì phiên thảo luận Nền tảng và chính sách khoa học công nghệ phát triển bền vững.
GS.TS Ngô Xuân Bình, Trường Đại học Intracom cho biết, Việt Nam có đường bờ biển dài hơn 3.260 km cùng vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn, sở hữu nguồn tài nguyên ven biển phong phú nhưng đang đối mặt với nhiều thách thức như xói lở bờ biển, ô nhiễm môi trường nước, xâm nhập mặn và tác động ngày càng gia tăng của biến đổi khí hậu. Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển kinh tế – xã hội diễn ra nhanh, yêu cầu giám sát tài nguyên, môi trường ven biển theo hướng bền vững trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Trước đây, công tác giám sát chủ yếu dựa vào phương pháp khảo sát, lấy mẫu thủ công, đo đạc cục bộ, tốn nhiều thời gian, chi phí và khó bao quát trên quy mô lớn. Sự phát triển nhanh chóng của các công nghệ mới như viễn thám, Internet vạn vật (IoT), mạng cảm biến, thiết bị bay không người lái và công nghệ số đã mở ra những hướng tiếp cận mới, cho phép quan trắc liên tục, thời gian thực và trên phạm vi rộng.

Tại Việt Nam, công nghệ viễn thám đang trở thành hướng đi quan trọng trong quản lý tài nguyên và giám sát môi trường ven biển, hỗ trợ theo dõi biến động đường bờ, chất lượng nước, rừng ngập mặn và tác động của nước biển dâng. Bên cạnh đó, các hệ thống IoT và mạng cảm biến bước đầu được triển khai tại một số khu vực ven biển, cho phép theo dõi các thông số môi trường như nhiệt độ, pH, độ mặn, oxy hòa tan theo thời gian thực, phục vụ quản lý nuôi trồng thủy sản và bảo vệ hệ sinh thái. Tuy nhiên, việc ứng dụng các công nghệ này vẫn còn ở quy mô thí điểm, chưa đồng bộ, gặp khó khăn về hạ tầng, chi phí và tích hợp dữ liệu.
GS.TS Ngô Xuân Bình đề xuất Việt Nam cần xây dựng chiến lược quốc gia về công nghệ giám sát ven biển, triển khai các khu vực thí điểm tích hợp công nghệ và đầu tư đồng bộ hạ tầng dữ liệu, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và hoạch định chính sách phát triển bền vững tài nguyên, môi trường ven biển.
PGS.TS Trần Thị Thu Nga, Bộ Công an cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, an ninh môi trường gắn chặt với an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội. Biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường cùng sự gia tăng của các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường đang làm gia tăng các rủi ro an ninh, đòi hỏi cách tiếp cận quản lý tổng thể và chủ động hơn. Thực tiễn cho thấy, an ninh môi trường không còn là lĩnh vực tách biệt mà đã trở thành một cấu phần quan trọng của ổn định xã hội và phát triển bền vững.

PGS.TS Trần Thị Thu Nga, Bộ Công an chia sẻ các thông tin tại hội thảo.
Dưới góc nhìn quản lý nhà nước, chuyển đổi xanh không chỉ là chiến lược phát triển mà còn là yêu cầu nhằm phòng ngừa rủi ro an ninh môi trường, góp phần bảo đảm ổn định lâu dài. Trong tiến trình này, khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt, là công cụ quan trọng của quản trị hiện đại, giúp nhận diện sớm nguy cơ, hỗ trợ phòng ngừa và nâng cao hiệu quả quản lý, thực thi pháp luật.
Từ góc nhìn của Bộ Công an, việc ứng dụng các hệ thống giám sát môi trường thông minh, phân tích dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số cho phép giám sát theo thời gian thực, cảnh báo sớm vi phạm, ngăn chặn trục lợi chính sách và tăng cường hiệu quả răn đe. Bên cạnh đó, phối hợp liên ngành và hợp tác quốc tế được xác định là yếu tố quan trọng nhằm bảo đảm an ninh môi trường và thúc đẩy phát triển bền vững.
Nhiều công nghệ ứng dụng thiết thực vào đời sống
Tại hội thảo, các nhà khoa học đã trình bày nhiều tham luận về ứng dụng khoa học công nghệ vào đời sống như ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giảng dạy; vai trò của điện quang can thiệp trong giải quyết các bệnh lý với sự xâm lấn tối thiểu, mang lại hiệu quả tối đa; Phát điện - giải pháp giảm phát thải trong ngành chăn nuôi heo thành năng lượng tái tạo...
TS Hoàng Văn Va tập trung phân tích giải pháp đốt chất thải chăn nuôi heo để phát điện nhằm giảm phát thải và chuyển hóa phân heo thành năng lượng tái tạo. Theo tác giả, chăn nuôi heo đang gây áp lực lớn lên môi trường không khí, nước và đất, đồng thời phát thải đáng kể khí nhà kính như CH₄ và N₂O. Ngành chăn nuôi heo là lĩnh vực chủ lực của nông nghiệp Việt Nam, với tổng đàn khoảng 27,1 triệu con (tháng 5/2025), đang chuyển dịch mạnh theo hướng công nghiệp hóa.
Theo TS Hoàng Văn Va, công nghệ đốt chất thải trang trại giúp giảm ô nhiễm môi trường, triệt tiêu mầm bệnh, tiết kiệm chi phí xử lý và tạo ra năng lượng tái tạo, đồng thời giảm phụ thuộc vào các nguồn năng lượng hóa thạch. So với phương án chôn lấp, ủ truyền thống, công nghệ đốt chỉ cần khoảng 1/10 diện tích đất, hạn chế nguy cơ ô nhiễm thứ cấp và tạo giá trị kinh tế tuần hoàn.
Về kỹ thuật, chất thải được thu gom, vắt ép, sấy giảm độ ẩm xuống dưới 10%, sau đó đốt ở nhiệt độ cao để sinh nhiệt, chuyển hóa thành điện năng thông qua hệ thống lò hơi – tua-bin – máy phát. Kết quả tính toán cho thấy, với trang trại 30.000 con heo, công suất phát điện thực tế có thể đạt khoảng 1,578 MW, góp phần xử lý chất thải và cung cấp nguồn năng lượng ổn định.
Tham luận của BSCKII Ngô Quang Định tập trung làm rõ vai trò của điện quang can thiệp trong chẩn đoán và điều trị bệnh lý với phương châm xâm lấn tối thiểu, hiệu quả tối đa. Bài viết đặt vấn đề trong bối cảnh y học hiện đại đang chuyển dịch mạnh từ phẫu thuật mở sang các phương pháp can thiệp ít xâm lấn nhờ sự phát triển của công nghệ hình ảnh như CT, MRI, DSA và vật liệu can thiệp tiên tiến. Điện quang can thiệp hiện được công nhận là chuẩn điều trị quốc tế đối với nhiều bệnh lý và phù hợp với xu hướng y học chính xác, cá thể hóa.
Các lĩnh vực ứng dụng chính gồm điều trị ung thư gan, bệnh lý mạch máu, bệnh lành tính và các can thiệp chẩn đoán – điều trị dưới hướng dẫn hình ảnh. Kết quả triển khai cho thấy điện quang can thiệp giúp rút ngắn thời gian nằm viện, giảm biến chứng, tiết kiệm chi phí và cải thiện chất lượng sống cho người bệnh.
Tham luận của TS. Nguyễn Quốc Tư tập trung phân tích việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong giảng dạy đại học trong bối cảnh giáo dục đại học đang chuyển đổi mạnh mẽ. AI được xác định là công cụ hỗ trợ giảng dạy, học tập và đánh giá, giúp cá nhân hóa học tập, tự động hóa các công việc lặp lại và hỗ trợ ra quyết định dựa trên dữ liệu. Các lĩnh vực ứng dụng chính gồm chuẩn bị bài giảng, hỗ trợ học tập trên lớp, đánh giá – phản hồi và phân tích học tập. Tham luận cũng chỉ ra các rủi ro sư phạm, vấn đề đạo đức, liêm chính học thuật và nhấn mạnh vai trò quản trị của cơ sở giáo dục trong triển khai AI.
Hội thảo quốc tế "Thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ vào cuộc sống – Từ lý thuyết đến thực tiễn" là một trong những hoạt động thể hiện cho sự kiên định một triết lý: đào tạo gắn với thực tiễn – nghiên cứu gắn với ứng dụng – công nghệ gắn với con người mà Trường Đại học Intracom theo đuổi.
Trường Đại học Intracom là thành viên nòng cốt của hệ sinh thái Intracom, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển các giải pháp đổi mới sáng tạo phục vụ doanh nghiệp, phụng sự tiến bộ xã hội, góp phần nâng tầm vị thế Việt Nam trong kỷ nguyên toàn cầu hóa.
Với tầm nhìn Đến năm 2045, Trường Đại học Intracom trở thành hệ thống đô thị đại học đa khuôn viên tại Việt Nam và trong khu vực, vận hành theo mô hình đại học đổi mới sáng tạo gắn với doanh nghiệp, tạo động lực và nguồn lực vững chắc cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước.
Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng: Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo nâng tầm vị thế Việt Nam trong kỷ nguyên mới