Là một tỉnh miền núi, Lạng Sơn đạt mức sinh thay thế từ năm 2010 là một thành công lớn. Song sự mất cân bằng giới tính khi sinh đang là một thực tế đáng lo ngại trong mấy năm qua.
Số con/phụ nữ giảm, chênh lệch giới tính tăng
Từ một tỉnh có mức sinh cao với bình quân 3,8 con/phụ nữ ở giai đoạn 1993-2003, nay giảm xuống còn 1,84 con/phụ nữ năm 2010, Lạng Sơn đã đạt và vượt chỉ tiêu về mức sinh thay thế. Để đạt được mức sinh thay thế với tỷ lệ bình quân số con/phụ nữ thấp, chúng ta đã áp dụng đồng bộ nhiều giải pháp, từ đẩy mạnh tuyên truyền đến cung ứng các dịch vụ KHHGĐ trong đồng bào dân tộc, vùng khó khăn và vùng có mức sinh cao; tăng cường duy trì và mở rộng các mô hình nâng cao chất lượng dân số; giảm tỷ suất chết sơ sinh, tỷ suất chết mẹ, giảm tỷ lệ nạo phá thai... Tuy nhiên, khi bình quân số con/phụ nữ xuống thấp, giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên, xu hướng cặp vợ chồng chỉ sinh 1 con khá phổ biến thì lại nảy sinh tình trạng chênh lệch giới tính khi sinh. Theo thống kê của Chi cục Dân số tỉnh, từ năm 2010 đến nay, chênh lệch tỷ số giới tính khi sinh trên địa bàn Lạng Sơn tăng liên tục, từ 106/100 (106 bé trai/100 bé gái) năm 2010 lên 117/100 năm 2013, năm 2014 là 118/100 và 5 tháng đầu năm 2015 là 116/100. Hiện nay, Lạng Sơn đang trở thành tỉnh có tỷ số giới tính khi sinh cao hơn nhiều so với bình quân các tỉnh trung du miền núi phía Bắc (Lạng Sơn 118/100, các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc 108,5/100).
Phụ nữ dân tộc Sán Chỉ, xã Nhường Bạn, huyện Lộc Bình, Lạng Sơn đăng ký dịch vụchăm sóc SKSS/KHHGĐ. Ảnh: M.H
Tổng cục DS-KHHGĐ cho biết, nếu bình quân số con tỷ lệ nghịch với trình độ người mẹ thì tỷ số giới tính khi sinh lại tỷ lệ thuận với trình độ của người mẹ. Điều đó có nghĩa rằng, tỷ số giới tính khi sinh cao nằm trong nhóm những bà mẹ có trình độ cao. Nếu phân theo nhóm xã hội thì tỷ số giới tính khi sinh cao nằm trong nhóm người có thu nhập cao. Ở Lạng Sơn chưa có thống kê phân loại đầy đủ song tình trạng cũng tương tự như vậy. Thống kê 5 tháng đầu năm 2015 cho thấy, tỷ số giới tính khi sinh ở khu vực thành phố là 123/100, Hữu Lũng là 129/100; trong khi ở Đình Lập chỉ ở mức 100/100.
Khắc phục thế nào?
Ngoài việc do phong tục tập quán, tâm lý xã hội đã “sâu rễ bền gốc” trong người dân thì việc đề ra chủ trương mỗi cặp vợ chồng chỉ có từ 1-2 con cũng là một áp lực đáng kể.
Trao đổi với chúng tôi, ông Lương Ngọc Mạnh - Phó Giám đốc Trung tâm Dân số/KHHGĐ huyện Lộc Bình phân tích, áp lực chỉ sinh từ 1 - 2 con trong đó tâm lý chung là phải có 1 con trai nên nhiều khi các cặp vợ chồng thường tìm đến các dịch vụ y tế để “nhờ” lựa chọn giới tính. Thông thường, nếu con đầu là trai thì các cặp vợ chồng khá yên tâm, vì đến con thứ 2 “nếp” hay “tẻ” đều được cả; nhưng nếu con đầu là gái thì cho dù bằng cách này hay cách khác, họ vẫn có sự lựa chọn giới tính để khi sinh con thứ 2 phải là trai. Một nguyên nhân khác giải thích cho tình trạng ở nhóm phụ nữ có trình độ càng cao thì sự mất cân bằng giới tính khi sinh càng lớn là nhóm phụ nữ này thường là cán bộ, công chức, viên chức... những người trực tiếp chịu sự ràng buộc về các quy định của chính quyền, đoàn thể, cơ quan, nên không “dám” sinh con thứ 3. Vì vậy, họ cho rằng việc lựa chọn giới tính thai nhi là cần thiết và để cho “ăn chắc”. Họ cũng có đủ những kiến thức cần thiết như chế độ ăn uống, cách tính ngày phóng noãn, chọn phương pháp thụ tinh... và nếu cần thiết, họ sẵn sàng bỏ một khoản tiền để siêu âm, bắt mạch, chọc hút dịch ối hay nạo phá thai...
Để có thể giảm thiểu tình trạng lựa chọn giới tính khi sinh dẫn đến mất cân bằng giới tính, theo bà Đỗ Thị Thêm - Chi cục trưởng Chi cục Dân số tỉnh Lạng Sơn thì biện pháp đầu tiên là công tác truyền thông giáo dục cho các đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ và cả đối tượng vị thành niên, thanh niên. Về vấn đề này, ngành dân số đang nỗ lực phối hợp với ngành GD&ĐT để thực hiện trong nhiều năm qua với hàng trăm cuộc truyền thông tại các đơn vị nhà trường với hàng chục ngàn lượt học sinh, sinh viên tham gia. Duy trì và mở rộng các loại hình câu lạc bộ ở các tổ chức, đoàn thể. Giải pháp kỹ thuật như các mô hình, đề án nâng cao chất lượng dân số như mô hình tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân, mô hình can thiệp làm giảm tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống, đề án sàng lọc trước sinh và sàng lọc sơ sinh... Tuy vậy, giải pháp mang tính bền vững vẫn là giải pháp xã hội để nâng cao vai trò, vị thế xã hội của phụ nữ, khắc phục nhanh tình trạng bất bình đẳng giới; tăng cường công tác đảm bảo an sinh xã hội cho người cao tuổi, nhất là ở khu vực nông thôn để người cao tuổi đỡ phụ thuộc vào con cái trong việc đảm bảo đời sống lúc về già. Tăng cường quản lý, kiểm tra các cơ sở y tế, phát hiện, ngăn chặn kịp thời những cơ sở có hành vi tiết lộ giới tính thai nhi và tham gia dịch vụ lựa chọn giới tính thai nhi theo quy định của Pháp lệnh Dân số.
MINH HỒNG