Khám phá về lao động kỹ thuật ở loài vật

Thời sự
Dùng mồi bắt cá, săn thỏ bằng lửa, lấy gậy để đo độ nông sâu... trong “lao động” hàng ngày, các loài động vật không chỉ biết sử dụng thành thạo các công cụ mà còn có rất nhiều “kỹ thuật”, “mánh khóe” để đạt được hiệu quả và năng suất cao nhất.

Dùng mồi bắt cá, săn thỏ bằng lửa, lấy gậy để đo độ nông sâu... trong “lao động” hàng ngày, các loài động vật không chỉ biết sử dụng thành thạo các công cụ mà còn có rất nhiều “kỹ thuật”, “mánh khóe” để đạt được hiệu quả và năng suất cao nhất. Quan sát “tài nghệ” của động vật mới thấy quan điểm tư tưởng dùng lao động để phân biệt con người với con vật dường như sắp sụp đổ.

Công cụ lao động không chỉ dành riêng cho con người

Hồi cuối năm 2004, một báo cáo nghiên cứu của các nhà khoa học Đức, đứng đầu là TS.Thomat Breuer thuộc Hội Bảo vệ cuộc sống hoang dã (Công viên quốc gia Bronx) đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của tất cả các nhà động vật học trên thế giới. Báo cáo cho thấy: loài khỉ đột hoang dã tại Congco cũng biết sử dụng một số công cụ lao động thành thạo như con người. Chính mắt các nhà khoa học đã chứng kiến những chú khỉ đột dùng cành cây làm gậy chống mỗi khi leo núi hoặc để đo độ sâu của đầm lầy trước khi tìm cách vượt qua. Cũng với một cành cây, những con khỉ cái đã dùng làm công cụ để trộn lẫn rau cỏ và hoa quả thành một món ăn, rồi sau đó lấy ngay cành cây ấy làm “cây cầu” để vượt qua một vũng nước. “Đây thật sự là một phát hiện làm chúng tôi sững sờ” – TS.Thomat Breuer nói: “Khả năng sử dụng công cụ của khỉ đột khiến chúng ta thấu hiểu hơn về sự tiến hóa của con người và phải nhìn nhận một cách nghiêm túc hơn về năng lực tự nhiên của các loài khác”.

 Tinh tinh dùng gậy để bắt cá.
Tuy khám phá của các nhà khoa học Đức rất đáng quan tâm song không phải là những gì gây ngạc nhiên nhất. Sau một thời gian dài quan sát ngoài trời, trong những điều kiện khó khăn nhất, các nhà nghiên cứu Anh đã chứng minh được điều mà trước đây không ai tin: chẳng phải chỉ có loài khỉ đột mới biết sử dụng cành cây hay hòn đá trong quá trình lao động mà ở tất cả mọi nơi trên trái đất đều có những loài vật biết dùng công cụ đơn giản để đào bới, khoan gõ, xúc xới. Thậm chí ngay cả loài chim với khối lượng não bộ nhỏ bé luôn bị loài người miệt thị là “não chim sẻ” cũng khá thành thạo trong lĩnh vực này, chẳng hạn như loài quạ ở New Caledonia (Corvus moneduloides). Loài quạ này thường dùng một đoạn rễ cỏ, giống như con người dùng một cái xẻng nhỏ, để thăm dò và đào bới đất, tìm kiếm thức ăn. Chúng cũng biết sử dụng những cọng cây cứng để khều bắt ấu trùng từ trong thân cây. Ngạc nhiên hơn nữa, mặc dù xung quanh chúng có rất nhiều cọng cây và rễ cỏ, nhưng loài quạ thường mang theo “công cụ” riêng mỗi khi đi kiếm ăn. Các nhà nghiên cứu giải thích rằng quạ thích giữ một vật dụng tốt thay vì phải mất công tìm kiếm.

Tài nghệ của những “tay thợ lành nghề”

Loài chim đại bàng hung bạo từ lâu đã biết rằng những vật thể rơi từ trên cao xuống mặt đất sẽ bị biến dạng; mà con rùa một khi đã bị vỡ tan lớp mai kiên cố bên ngoài thì sẽ là một món ăn tuyệt vời. Thế nên, để có món ăn tuyệt vời đó, đại bàng chỉ cần quắp con rùa lôi bổng lên độ cao khoảng 60m rồi thả cho rơi xuống đất. Nó cứ lặp đi lặp lại động tác lôi con rùa lên cao rồi thả cho rơi xuống đất, cho tới khi lớp mai bị vỡ ra. Song chỉ đơn giản như thế thì chưa là gì, những con đại bàng tinh ranh còn lao theo nạn nhân của chúng trong cú rơi kinh hoàng đó, vừa lao chúng vừa dùng cánh điều khiển cho con rùa rơi xuống trúng những chỗ có cạnh đá sắc nhọn nhất. Theo quan sát của các nhà nghiên cứu, với những “tay nghề” khéo léo như vậy thì chỉ cần trung bình 3 cú ném là có thể ăn thịt được con mồi, còn nếu không thì cần phải bay lên bay xuống tới 8 lần.

Tương tự, mỗi quả trứng đà điểu khổng lồ là cả một bữa ăn thịnh soạn đối với tuyệt đại đa số những con kên kên. Cái vỏ trứng đà điểu có thể rắn chắc đối với nhiều loài, song với kên kên lại không phải là bài toán khó. Lũ chim dùng mỏ để quặp và ném những hòn đá có thể nặng tới 1kg vào quả trứng, chúng ném đi ném lại cho tới khi vỏ trứng vỡ ra mới thôi. Tuy nhiên, tài nghệ đáng được ghi nhận là khả năng ném đá gần như  “trăm phát trăm trúng” của các chú kên kên này.

Không chỉ trong việc tìm kiếm thức ăn, cả trong những công việc khác một số loài động vật cũng tỏ ra rất sáng tạo và vô cùng khéo léo. Loài chim Seidenlaube nhỏ bé biết cách cắn những loài hoa hay những quả dâu dại rồi nhai nát trong mồm, trộn lẫn với nước dãi của mình để làm thành một thứ màu tổng hợp, sau đó nó nhả thứ màu này vào một đống rơm rạ rồi dùng mỏ cắp những cọng rơm rạ đó về để tô vẽ, chát chít, sơn sửa cho “căn phòng hạnh phúc” của mình - giống như một họa sĩ sử dụng cây cọ để quét màu lên bức tranh vậy.

Kinh nghiệm mánh khóe = năng suất cao

Đó là “công thức” mà khá nhiều loài động vật “thuộc lòng” trong đầu. Loài quạ đen ở Thụy Điển mỗi khi đêm xuống lại đi kéo trộm những sợi dây câu mà người thợ câu đã thả lúc ban ngày. Ngậm dây câu trong mỏ, bọn chim này đi giật lùi cho tới khi các “chiến lợi phẩm” ở đầu lưỡi câu được kéo lên mặt đất, và thế là tất cả những chú cá mắc câu lẽ ra là của con người liền trở thành bữa ăn thịnh soạn của chúng.

Loài diều hâu màu đen tại Australia lại chuyên đi ăn cắp những mẩu gỗ đang cháy dở từ những đống lửa do con người đốt lên rồi đem đến thả xuống một bãi cỏ khô, sau đó diều hâu chỉ việc ung dung tóm lấy món ăn yêu thích nhất: những con thỏ đang hoảng loạn trong trận hỏa hoạn.

Những con diệc xanh tại châu Mỹ lại biết “bẫy cá” bằng cách ném côn trùng hoặc giun xuống nước để rồi bắt gọn những chú cá đang nhào đến đớp mồi. Bằng “mánh khóe” này, loài chim ăn cá có đôi chân cao lênh khênh trong vòng nửa tiếng đồng hồ có thể bắt được 20 con cá. Ngược lại, những con diệc non chưa có “vốn sống” nhiều khi cần tới 60 tiếng đồng hồ chỉ để bắt một con cá duy nhất. Theo TS.Thierry Aubin - chuyên gia về tập tính của động vật thì đó là một bằng chứng cho thấy việc săn cá bằng mồi của loài chim này đã được học hỏi qua việc bắt chước và được hoàn thiện qua những kinh nghiệm mà chúng thu nhận được. Ông cho biết thêm: “Nhiều tập tính ở động vật mà người ta tin là do bẩm sinh, thực tế là do học hỏi và  rút kinh nghiệm mà có”.

Nhiều khi những “kinh nghiệm sống” của động vật đã tạo ra một số kỹ thuật đơn giản song lại mang tính cách mạng trong lao động, ví dụ loài rệp Salyavata không bao giờ biết no. Món ăn mà chúng yêu thích nhất bao giờ cũng là món ăn tiếp theo; thế nên chúng đã tạo ra cho mình một “thói quen”, bắt những con mối bằng một mưu mẹo: vào lúc bắt đầu bữa ăn của mình, sau khi đã hút hết máu của con mối đầu tiên, con rệp để cái xác rỗng ở gần miệng tổ. Những con mối khác muốn đến để chôn cất đồng loại đã chết, sẽ bám vào cái xác đó và khi ấy chúng liền trở thành món ngon tiếp theo của rệp, chúng cũng bị hút cho rỗng rồi sau đó lại được dùng làm mồi để “câu” con mối khác.

Anh Thư (theo Marianne)


Ý kiến của bạn