Nền tảng khai báo, tra cứu thống nhất trên cả nước
Ngày 28/8, Bộ Khoa học và Công nghệ chính thức công bố và đưa vào vận hành Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo, tại địa chỉ ai.dda.gov.vn. Đây là nền tảng số được xây dựng để triển khai Luật Trí tuệ nhân tạo và các văn bản hướng dẫn thi hành, đồng thời hình thành một đầu mối thống nhất phục vụ quản lý nhà nước, minh bạch thông tin và thúc đẩy hệ sinh thái AI Việt Nam phát triển an toàn, có trách nhiệm.

Giao diện Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo.
Nền tảng cung cấp một địa chỉ trực tuyến duy nhất để doanh nghiệp, nhà phát triển, cơ quan nhà nước, chuyên gia và người dân thực hiện các thủ tục, khai báo, tra cứu và tương tác với cơ quan quản lý.
Các chức năng trọng tâm gồm: tiếp nhận đăng ký thử nghiệm có kiểm soát; thông báo phân loại rủi ro và đăng ký hệ thống AI; báo cáo sự cố nghiêm trọng và báo cáo định kỳ; công khai thông tin, kết quả đánh giá và xử lý vi phạm; kết nối doanh nghiệp với các chương trình hỗ trợ, hạ tầng, dữ liệu dùng chung và các nguồn lực phát triển AI.
Thông qua nền tảng, doanh nghiệp có thể thực hiện thủ tục trực tuyến, giảm thời gian và chi phí tuân thủ; người dân có thể tra cứu, giám sát, gửi phản ánh và tiếp nhận cảnh báo về các hệ thống.
Việc thiết lập Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo và Cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ thống AI, do Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm quản lý, vận hành.
Việc thu thập, cập nhật, công khai, kết nối, chia sẻ và khai thác thông tin trên Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo và Cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ thống trí tuệ nhân tạo phải bảo đảm quy định pháp luật về giao dịch điện tử.
Đồng thời, phải phù hợp với mục đích quản lý nhà nước và phạm vi thông tin được pháp luật cho phép; tuân thủ quy định của pháp luật về an ninh mạng, bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh và bảo vệ dữ liệu cá nhân; không làm phát sinh thủ tục hành chính, nghĩa vụ báo cáo hoặc yêu cầu cung cấp thông tin đối với tổ chức, cá nhân ngoài các trường hợp quy định tại Nghị định này.
Các hệ thống trí tuệ nhân tạo, cơ sở dữ liệu phục vụ hoạt động nội bộ của cơ quan Đảng, tổ chức chính trị, hệ thống trí tuệ nhân tạo thuộc danh mục bí mật nhà nước, quốc phòng, an ninh không thuộc phạm vi phải thông báo, đăng ký, chia sẻ dữ liệu công khai trên cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo.
AI hướng tới đóng góp khoảng 6% GDP vào năm 2030
Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, Chính phủ vừa ban hành Chiến lược quốc gia về Trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Chiến lược xác định bước chuyển từ nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI sang chuyển đổi toàn diện quốc gia bằng AI.
Chiến lược xác định 6 quan điểm xuyên suốt, trong đó nhấn mạnh việc triển khai AI phải bảo đảm lãnh đạo thống nhất, quản lý tập trung, lấy con người làm trung tâm và gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả.
Việt Nam sẽ phát triển nhân lực và phổ cập kỹ năng AI trên toàn dân; đồng thời phát triển đồng bộ hạ tầng, dữ liệu, mô hình và nền tảng AI, bảo đảm an toàn, an ninh và chủ quyền AI. Doanh nghiệp AI Việt Nam được xác định là lực lượng chủ lực, phát triển các sản phẩm, dịch vụ "Make in Viet Nam" và doanh nghiệp AI-native.
Hợp tác quốc tế được triển khai gắn với năng lực nội sinh, tự chủ chiến lược, đa dạng hóa đối tác, công nghệ và chuỗi cung ứng.
Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu trở thành một trong những trung tâm có năng lực nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và đồng kiến tạo giá trị về AI trong ASEAN và châu Á.
Các mục tiêu được xây dựng theo 4 tầng gồm tác động, kết quả, sản phẩm đầu ra và đầu vào.
Ở tầng tác động, Việt Nam đặt mục tiêu thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á về nghiên cứu, phát triển AI; kinh tế AI đạt khoảng 6% GDP; năng suất lao động trong các ngành ứng dụng AI tăng 10-15%. Xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ và giải pháp AI đạt khoảng 5 tỷ USD.
Ở tầng kết quả, 60% doanh nghiệp ứng dụng AI được kỳ vọng cải thiện hiệu quả. 100% cán bộ, công chức, viên chức sử dụng AI công vụ hằng tuần; 60% quyết định điều hành được hỗ trợ bởi dữ liệu và AI. Mức độ hài lòng với dịch vụ công có AI tăng ít nhất 30%.
Chiến lược đặt mục tiêu 100% bộ, ngành, địa phương có kế hoạch triển khai; 100% dịch vụ công trực tuyến và hồ sơ thủ tục hành chính được hỗ trợ bởi AI. Việt Nam sẽ hình thành nền tảng điều phối năng lực tính toán AI quốc gia, nền tảng đánh giá mô hình AI tiếng Việt, ít nhất 5 nền tảng AI dùng chung, 10 thương hiệu AI Việt Nam và 8 mô hình AI tiếng Việt theo 4 quy mô.
Về nhân lực, đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu phát triển 10.000 nhân lực AI trình độ cao và 50.000 nhân lực trình độ đại học trở lên có năng lực ứng dụng AI. Đồng thời, 500.000 lao động sẽ được đào tạo, đào tạo lại để triển khai, vận hành AI; 10 triệu lao động đã qua đào tạo được trang bị kỹ năng AI cơ bản.
Ở tầng đầu vào, tổng đầu tư cho AI được đặt mục tiêu đạt 1-1,5% GDP/năm. Năng lực tính toán khoảng 560 EFLOPS BF16 hoặc 1.100 EFLOPS FP8, với công suất điện khoảng 500 MW.
Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam thuộc nhóm 10 quốc gia dẫn đầu châu Á về nghiên cứu, phát triển, làm chủ AI và chuyển đổi AI quốc gia. AI trở thành nền tảng vận hành chủ đạo của Nhà nước, nền kinh tế và xã hội.
Chiến lược đồng thời đưa ra 6 nhóm giải pháp đột phá, gồm hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật; điều phối quốc gia và trách nhiệm thực thi; huy động nguồn lực, bảo đảm kinh phí; hợp tác quốc tế và xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn; tuyên truyền, nâng cao nhận thức và văn hóa sử dụng AI có trách nhiệm; đo lường, giám sát, đánh giá.
Việc thực hiện gắn với trách nhiệm người đứng đầu và nguyên tắc "6 rõ": rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền.
Chiến lược được cụ thể hóa bằng 32 chỉ tiêu và 97 nhiệm vụ, giải pháp thuộc 14 nhóm. Mỗi nhiệm vụ xác định rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, đơn vị thực hiện, sản phẩm hoặc kết quả và thời gian thực hiện.
Các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu, cơ sở đào tạo, tổ chức xã hội và hiệp hội cùng tham gia triển khai theo nhiệm vụ được xác định.
Bộ KH&CN sẽ chủ trì triển khai, điều phối liên ngành, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát, đo lường, đánh giá và hằng năm báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Các bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm xây dựng kế hoạch, bố trí nguồn lực và tổ chức thực hiện.