Ðội ngũ cán bộ chuyên ngành sản khoa khu vực tuyến huyện, xã hiện nay dù đã được đầu tư và quan tâm nhiều nhưng vẫn còn những hạn chế, là thách thức rất lớn trong công tác chăm sóc sức khỏe tại cơ sở. Nhằm khắc phục những hạn chế trên, ngành y tế đang tập trung tăng cường đào tạo, bổ sung nguồn nhân lực, đồng thời có cơ chế, chính sách phù hợp nhằm thu hút nhiều cán bộ hơn nữa cho lĩnh vực này.
Từ… thiếu “thầy”
Theo báo cáo của ngành y tế, hiện nay, tỷ lệ tử vong mẹ ở nước ta đã giảm hơn 3 lần, từ mức 233/100 nghìn trẻ đẻ sống (năm 1990) xuống còn 69/100 nghìn trẻ đẻ sống vào năm 2009. Mặc dù tử vong mẹ đã giảm, nhưng với số ca sinh khoảng 1 triệu trẻ/năm, như vậy ước tính mỗi năm cả nước vẫn còn từ 690 - 700 ca tử vong mẹ. Theo đánh giá của các chuyên gia trong lĩnh vực sức khỏe sinh sản (SKSS), một trong những nguyên nhân dẫn đến tai biến sản khoa gây tử vong mẹ ở nước ta thời gian qua là do thiếu nguồn nhân lực chuyên ngành sản cũng như năng lực chuyên môn về làm mẹ an toàn của cán bộ y tế còn hạn chế. Theo số liệu thống kê, hiện nay, tuyến huyện, xã đang thiếu nguồn nhân lực khá trầm trọng, đối với tuyến huyện, tỷ lệ bệnh viện đa khoa (BVÐK) có thạc sĩ hoặc bác sĩ chuyên khoa sản hoặc tương đương mới đạt 54,8% và vẫn còn 21,3% số BVÐK không có bác sĩ chuyên khoa sản định hướng trở lên. Trong số 215 BVÐK huyện thuộc vùng được xác định có khó khăn về địa lý, còn 55 bệnh viện (chiếm 25,6%) không có bác sĩ từ chuyên khoa sản định hướng trở lên. Tại 62 huyện nghèo, tỷ lệ này lên đến 39%.

Tuyến xã, tỷ lệ trạm y tế (TYT) có y sĩ sản nhi, nữ hộ sinh đạt 93,7% (trong đó có 2,4% số TYT xã chỉ có nữ hộ sinh sơ học). Như vậy, vẫn còn khoảng 6% số TYT xã chưa có y sĩ sản nhi hoặc nữ hộ sinh trung học trở lên, đối với 62 huyện nghèo, tỷ lệ này là 15,4% số xã chưa có đội ngũ trên.
Thực tế từ kết quả khảo sát do Vụ Bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em – Bộ Y tế và Sở Y tế các tỉnh tiến hành gần đây cũng cho thấy, mạng lưới chăm sóc SKSS còn nhiều bất cập, nhất là hệ thống y tế tuyến huyện. Trung bình mỗi BVĐK tuyến huyện chỉ có vẻn vẹn 5,5 BS công tác tại cả 2 khoa sản, nhi.
Đến trang thiết bị
Ngoài sự thiếu hụt trầm trọng về nguồn nhân lực, nhiều BS sản khoa cũng tỏ ý lo ngại về sự bất cập của trang thiết bị y tế tại các cơ sở y tế tuyến huyện. Hiện tại, trung bình mỗi BV huyện chỉ có 1 chiếc máy theo dõi sản khoa (monitoring), một loại máy rất quan trọng trong theo dõi sự phát triển của thai nhi và hoạt động của tử cung. Nghĩa là nếu có hơn 1 sản phụ cùng chuyển dạ thì những sản phụ khác sẽ không có máy để theo dõi. Tương tự, trung bình mỗi khoa sản tại BV tuyến huyện chỉ có 1 bình ôxy và bộ dụng cụ thở ôxy. Sự thiếu hụt loại trang thiết bị này chắc chắn sẽ khiến kíp trực khó xoay xở nếu cùng một lúc có 2 - 3 sản phụ cần phải có máy thở hỗ trợ… Thiếu nhân lực, trang thiết bị nên năng lực cung cấp dịch vụ của các BV tuyến huyện còn nhiều hạn chế: chỉ có 68,2% BV có thể mổ đẻ; 59,8% BV triển khai được hoạt động truyền máu và khoảng 1/2 số BV huyện là có khả năng cung cấp được cả 2 dịch vụ này. “Phần lớn ở BV tuyến huyện không có máu dự trữ. Trong khi đó, nhiều trường hợp tai biến sản khoa là do băng huyết, mà không có máu truyền thì không cứu được”, một chuyên gia về sản khoa lo lắng nói.
Cách gì giữ chân người ở lại?
Để củng cố và khắc phục những hạn chế của hệ thống sản khoa tuyến huyện, Bộ Y tế đã và đang có nhiều chương trình, đề án nâng cao chất lượng điều trị, chăm sóc bà mẹ, trẻ em. Ðối với vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số sẽ tăng cường đào tạo đội ngũ cô đỡ thôn, bản hoặc cán bộ y tế thôn, bản biết quản lý thai, đỡ đẻ sạch, đẻ an toàn kể cả phát hiện, xử trí cấp cứu và chuyển viện kịp thời trong những trường hợp mang thai có nguy cơ. Ngoài ra, tiếp tục bổ sung, hoàn thiện chế độ chính sách nhằm thu hút cán bộ chuyên môn, nhất là cán bộ giỏi về công tác lâu dài ở các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, đồng thời ban hành quy định về nghĩa vụ xã hội đối với bác sĩ về công tác tại các vùng sâu, vùng xa theo hướng tuyến trên về hỗ trợ tuyến dưới trực tiếp tham gia khám, chữa bệnh và đào tạo cán bộ bằng hình thức cầm tay chỉ việc.
Theo BS. Vũ Bá Quyết - Phó Giám đốc Bệnh viện Phụ sản TW, những BS ở tuyến huyện, nhất là vùng sâu, vùng xa rất thiệt thòi. Cả BV chỉ có 1 BS nên muốn đi học nâng cao cũng không đi nổi vì không có người làm việc. Có nơi còn không cho BS đi học vì sợ mất cán bộ. Như vậy, để hạn chế tai biến sản khoa, nhất là ở tuyến huyện, ngành y tế không chỉ cần tăng cường công tác đào tạo, đào tạo lại cán bộ, mà còn cần sớm xây dựng một chính sách đặc biệt để “giữ chân” cán bộ sản khoa. Chỉ khi nào cán bộ y tế ổn định cuộc sống, có cơ hội nâng cao tay nghề và cơ hội phát triển thì họ mới yên tâm, gắn bó với BV tuyến y tế cơ sở.
Bài và ảnh: Phương Tuyến