Kẻ sĩ đất Việt thế kỷ 20

11-04-2010 09:10 | Văn hóa – Giải trí
google news

Cuốn Tạp văn của đạo diễn và nhà nghiên cứu sân khấu Đình Quang có thể lấy tên là Hồi ký một kẻ sĩ Bắc Hà thế kỷ 20.

 NSND Đình Quang.
Cuốn Tạp văn của đạo diễn và nhà nghiên cứu sân khấu Đình Quang có thể lấy tên là Hồi ký một kẻ sĩ Bắc Hà thế kỷ 20.  “Nhất bách dư niên hậu”, đó sẽ là một tư liệu cho hậu thế muốn tìm hiểu tâm trạng một thế hệ trí thức vừa là chứng nhân, vừa là tác nhân trong các thời Pháp thuộc, Cách mạng, Kháng chiến, Đổi mới, Toàn cầu hoá. Với những sự kiện không tiền khoáng hậu: chết đói hai triệu người, chia cắt đất nước, chỉnh huấn, cải cách ruộng đất, Nhân văn giai phẩm, B52, giải phóng Sài Gòn, từ bao cấp sang Đổi mới... Tất cả đều rõ rệt hay thấp thoáng trong hơn 200 trang sách của kẻ sĩ hiện đại Đình Quang, vui cũng có, nhưng không ít buồn và tư lự.

Đình Quang tự nhận là “đã chót mang thân kẻ sĩ”. Vậy kẻ sĩ là gì?

Theo Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ, đó là người trí thức thời phong kiến, khi xã hội chia ra sĩ, nông, công, thương. Dùng trong hoàn cảnh hiện đại, dường như từ ấy không chỉ “tầng lớp trí thức” chung, mà hàm nghĩa “sĩ phu”, như Nguyễn Khắc Viện đã từng nêu: “Có một truyền thống bao đời nho học, nhưng lại nhuốm vào từng sợi từng thớ những sắc thái của thời nay. Gốc nho, nhưng ghép vào là khoa học thực nghiệm, là chủ nghĩa tự do dân chủ (Bàn về đạo nho). Gốc nho là đạo làm người, nhân và nghĩa, luôn chấp nhận nhiệm vụ xã hội và đạo đức, khác với quan niệm cá nhân của trí thức phương Tây.

Đình Quang sinh năm 1928 ở Hà Nội, quê gốc ở làng công giáo toàn tòng Áng Sơn (Hoa Lư). Gia đình công giáo trí thức. Bố là quan “đốc tờ” (tốt nghiệp y sĩ Đông Dương đầu tiên), có 16 anh chị em đều làm nghề giáo và làm văn nghệ. Đình Quang theo Việt Minh, vào bộ đội, 21 tuổi đã là trưởng đoàn kịch Chiến sĩ hoạt động trong chiến khu ác liệt Bình Trị Thiên 1954-59. Học đại học đạo diễn sân khấu ở Trung Quốc, về nước mở các khoá đào tạo. 1968-1973 tu nghiệp sân khấu ở Đức, chuyên về Brecht, tốt nghiệp tiến sĩ. Sau đó, làm hiệu trưởng đại học Sân khấu và Điện ảnh, rồi làm thứ trưởng Bộ Văn hoá cho đến khi về hưu.

Gắn cuộc đời Đình Quang vào thế hệ kẻ sĩ VN thế kỷ 20, tôi chỉ xin nêu vài nét riêng về anh: Khát vọng tìm hiểu. Được đào tạo cơ bản, biết nhiều ngoại ngữ, đi nhiều, thực tế nhiều, đọc nhiều và không ngừng học hỏi: Khi có tuổi, ăn có ít hơn, chơi không ham nhiều, (nhưng) sự đói hiểu biết  không hề suy giảm. Gia nhập dễ dàng vào thời đại thông tin, hàng ngày qua máy tính, thu lượm được một lượng văn hoá to lớn. Chúng tôi cùng sát cánh với nhau 15 năm trong Quỹ Văn hoá Thụy Điển Việt Nam, đi khắp đất nước, có khi cả nước ngoài. Đến đâu cũng thấy anh lò mò tìm hiểu con người địa phương. Ra đảo Phú Quốc, anh tìm hiểu những con người, kể cả gái điếm, phiêu bạt từ đất liền.

Chữ Tâm của Đình Quang thể hiện qua nhiều mặt. Cũng như những kẻ  sĩ đồng thế hệ, trước tiên cái Tâm vì dân tộc. Anh đóng góp trong lĩnh vực sáng tác và lý luận, tổng kết trong 4 tập (3.000 trang) về sân khấu và văn hoá, đào tạo nhiều thế hệ nghệ sĩ sân khấu. Cái Tâm của Đình Quang khiến anh rất gần và thông cảm với người nghèo khổ. “Trước kia, dọc đường chiến tranh, đôi khi tôi tự nghĩ: Hình như trên cõi đời này, nói đến sướng, sướng mấy tôi cũng tưởng tượng ra được. Cứ cho là nhà lầu ô tô, vợ đẹp, con khôn, tiền nhiều như đốt đi, vẫn có thể hình dung ra. Nhưng nói đến khổ, thì nó muôn hình vạn trạng, sâu nông khôn lường, không sao có thể cảm hết, hiểu hết. Giờ tôi nghĩ thế mà đúng thật!”. Anh kể về một số thân phận cực khổ. Có lần, anh nghe một chiến sĩ Trường Sơn kể về đời mình: mồ côi, cầu bơ cầu bất, đến Quảng Trị, lấy một cô gái (bố mẹ là dân chài, đắm thuyền, chết). Vợ chồng có con, thời kháng chiến ở rừng. Vợ bị hổ ăn thịt, con bị rắn độc cắn chết. Anh ở lại rừng giết con cọp báo thù rồi đi bộ đội. Đình Quang: “Nghe tới đây, tôi không dám nhìn anh nữa. Tôi dán mắt vào bếp lửa (trong lán), khói đã giúp tôi giấu bớt những giọt nước mắt.”

Băn khoăn, day dứt cũng là đặc điểm của kẻ sĩ. Băn khoăn về thế sự: Viết về Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng, Đình Quang hẳn cũng muốn gửi gắm ít tâm sự: “Cái bệnh đa tư dễ bị coi là phức tạp. Khát vọng sáng tác và tìm tòi dễ mấy lúc tâm tưởng được bình yên. Hiểu biết nhiều cũng dễ trăn  trở với những gì hiện hữu, thấp thỏm trước tương lai. Với kẻ sĩ, sướng nhất là được sống là mình.”

Băn khoăn siêu hình, thèm khát hiểu biết nhưng càng biết nhiều càng khổ, vì “càng suy nghĩ càng thấy trong lòng một sự thiếu hụt”. Kiếp người, (qua những thí dụ cụ thể trong sách) sao khổ thế!”. Nguời là gì? Có linh hồn, có thượng đế không, tại sao thiện, ác?... Đình Quang loay hoay với những dấu hỏi từ nghìn năm, luôn luôn phải dẹp yên những mâu thuẫn trong tư duy, tình cảm giữa văn hoá Đông Tây, Ki-tô giáo và chủ nghĩa Mác, Phật, Khổng, Lão. Tại sao? Niềm vui và nỗi buồn luôn đan xen với nhau, ngay cả trong một đám tang. Cái chết luôn ám ảnh Đình Quang. Điển hình là bài tạp cảm cuối sách. Đình Quang đến bệnh viện thăm bạn bị ung thư sắp ra đi. Bùi ngùi tâm sự với nhau: Sau khi chết sẽ ra sao? Khoa học và tôn giáo đều không trả lời thoả đáng được các vấn đề  tâm linh. Anh rút ra một nền đạo lý tâm linh dựa vào xúc cảm và tâm hồn: làm điều thiện, cúng lễ thành tâm thì cảm thấy mình thanh thản và có ích cho xã hội “Niềm vui hãy nên chia sẻ, nỗi buồn nên giữ lấy riêng mình.” Đặc biệt với Đình Quang là niềm vui nghệ thuật. Về con người nghệ sĩ Đình Quang, tôi xin để dành khi khác sẽ bàn tiếp...

Hữu Ngọc


Ý kiến của bạn