Kế hoạch hành động chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh đến 2030

Y tế
SKĐS - Bộ Y tế ban hành Quyết định số 3373/QĐ-BYT về phê duyệt Kế hoạch hành động về chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ sơ sinh đến 2030.

Đến năm 2030, khống chế tỉ lệ mổ lấy thai dưới 40%

Ngày 31/10, Bộ Y tế ban hành Quyết định số 3373/QĐ-BYT về phê duyệt Kế hoạch hành động về chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ sơ sinh giai đoạn 2026-2030. Quyết định nhằm cải thiện sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh; giảm tử vong mẹ, tử vong sơ sinh, thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền, góp phần thực hiện Chiến lược quốc gia về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và các Mục tiêu Phát triển bền vững liên quan đến sức khỏe bà mẹ, trẻ em đến năm 2030.

Quyết định đặt mục tiêu đến năm 2030, giảm tỷ số tử vong mẹ xuống dưới 40/100.000 trẻ đẻ sống, riêng tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi dưới 60/100.000 trẻ đẻ sống; khống chế tỷ lệ mổ lấy thai dưới 40%. 

Tỷ lệ phụ nữ có thai được khám thai ít nhất 4 lần đạt từ 90% trở lên, riêng vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đạt tối thiểu 85%. Tỷ lệ đẻ tại cơ sở y tế đạt trên 98%, tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đạt tối thiểu 95%. 

Tỷ lệ bà mẹ và trẻ sơ sinh được chăm sóc tại nhà trong tuần đầu sau sinh đạt tối thiểu 75%, riêng vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đạt tối thiểu 60%. Tỷ lệ bà mẹ và trẻ sơ sinh được chăm sóc tại nhà trong vòng 42 ngày sau sinh đạt tối thiểu 85%, tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đạt tối thiểu 80%.

Kế hoạch hành động chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh đến 2030- Ảnh 1.

Bộ Y tế ban hành Kế hoạch hành động chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh đến 2030. Ảnh: T.A

Đối với sức khỏe trẻ sơ sinh, Bộ Y tế đặt mục tiêu giảm tỷ suất tử vong sơ sinh xuống dưới 8‰, riêng vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi dưới 12‰; khống chế tỷ lệ trẻ sơ sinh mắc bệnh não thiếu ô xy - thiếu máu cục bộ (HIE - Hypoxic-Ischemic Encephalopathy) do ngạt sơ sinh dưới 1,5‰. Tỷ lệ trẻ sơ sinh nhẹ cân (dưới 2.500g) được kiểm soát dưới 5%, riêng vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi dưới 7,5%.

Tỷ lệ trẻ sơ sinh được thực hiện quy trình chăm sóc sơ sinh thiết yếu sớm (EENC) theo hướng dẫn của Bộ Y tế đạt tối thiểu 90%. Tỷ lệ trẻ sơ sinh được tiêm vaccine viêm gan B trong vòng 24 giờ đầu đạt tối thiểu 90%, riêng vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đạt trên 80%. Tỷ lệ trẻ sơ sinh được sử dụng vitamin K1 đạt tối thiểu 98%, tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đạt trên 90%.

Để bảo đảm triển khai đồng bộ Kế hoạch hành động về chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em đến năm 2030, Bộ Y tế phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ. Trong đó, Cục Bà mẹ và Trẻ em giữ vai trò đầu mối, chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch hằng năm, tổ chức triển khai, theo dõi, điều phối các hoạt động của kế hoạch.

Vụ Kế hoạch - Tài chính có trách nhiệm theo dõi, báo cáo các nguồn kinh phí đầu tư trực tiếp và gián tiếp cho hoạt động chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh; trình cấp có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch kinh phí cho các đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ Y tế để triển khai các hoạt động can thiệp theo phân cấp ngân sách hiện hành và khả năng cân đối của ngân sách nhà nước. Vụ Bảo hiểm y tế phối hợp với Cục Bà mẹ và Trẻ em nghiên cứu, cung cấp bằng chứng làm cơ sở đề xuất mở rộng phạm vi chi trả bảo hiểm y tế đối với các dịch vụ dự phòng, chăm sóc trước sinh, sau sinh và chăm sóc trẻ nhỏ, phù hợp với lộ trình, nhóm đối tượng ưu tiên, mức đóng và khả năng cân đối của quỹ bảo hiểm y tế.

Vụ Tổ chức - Cán bộ chịu trách nhiệm hướng dẫn các địa phương kiện toàn tổ chức hệ thống chăm sóc sức khỏe, trong đó có mạng lưới chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe bà mẹ và trẻ em. Đồng thời, hoàn thiện, bổ sung chính sách nhằm tăng cường đào tạo, tuyển dụng và khuyến khích sử dụng đội ngũ nhân viên y tế chuyên ngành sản, nhi, bao gồm cả cô đỡ thôn bản, về công tác tại tuyến y tế cơ sở ở các vùng khó khăn.

Trong lĩnh vực chuyên môn, Cục Quản lý Khám, chữa bệnh chịu trách nhiệm về chuyên môn, kỹ thuật và nội dung hoạt động trong hệ thống khám bệnh, chữa bệnh; phối hợp với Cục Bà mẹ và Trẻ em xây dựng, bổ sung, sửa đổi các hướng dẫn chuyên môn, kỹ thuật về chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ em, đồng thời tổ chức đào tạo về chăm sóc sản khoa, sơ sinh thiết yếu cho mạng lưới bác sĩ gia đình. Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo có trách nhiệm rà soát, bổ sung, trình cấp có thẩm quyền ban hành các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo liên tục cho cán bộ y tế và đào tạo chuyên sâu sau đại học, trong đó có lĩnh vực chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ em, nhằm tăng cường nguồn nhân lực cho các tuyến.

Cục Phòng bệnh phối hợp với Cục Bà mẹ và Trẻ em triển khai các can thiệp dự phòng lây truyền HIV, giang mai, viêm gan B từ cha mẹ sang con; chỉ đạo và tổ chức các hoạt động tiêm chủng vaccine cho phụ nữ mang thai, bà mẹ và trẻ em. Trung tâm Thông tin y tế Quốc gia phối hợp xây dựng, triển khai cơ sở dữ liệu về chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và sức khỏe sinh sản; đề xuất nâng cấp, ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống chăm sóc sức khỏe sinh sản.

Đối với các bệnh viện được Bộ Y tế giao nhiệm vụ chỉ đạo tuyến về sản phụ khoa và nhi khoa, trách nhiệm trọng tâm là đẩy mạnh hỗ trợ chuyên môn, kỹ thuật cho tuyến dưới; thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn cập nhật kiến thức, nâng cao kỹ năng thực hành cho cán bộ y tế trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh và các lĩnh vực chuyên môn được giao.

Ở cấp địa phương, Sở Y tế các tỉnh, thành phố căn cứ tình hình thực tế và điều kiện nguồn lực để tham mưu xây dựng kế hoạch hành động, trình cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt theo quy định. Các địa phương có trách nhiệm định kỳ báo cáo tiến độ thực hiện kế hoạch về UBND tỉnh, thành phố và Bộ Y tế.

Hoàn thiện chính sách, nâng cao chất lượng dịch vụ và phát triển mạng lưới chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em

Để thực hiện các mục tiêu chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em đến năm 2030, Bộ Y tế xác định nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm là hoàn thiện thể chế, chính sách, đổi mới tư duy quản lý, tăng cường năng lực chuyên môn, phát triển nguồn nhân lực và đổi mới cơ chế tài chính y tế. Trong đó, tập trung hoàn thiện hành lang pháp lý phục vụ phát triển chuyên ngành sản phụ khoa và sơ sinh; rà soát, bổ sung các quy định về danh mục kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng và quy chuẩn kỹ thuật chuyên ngành. 

Kế hoạch hành động chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh đến 2030- Ảnh 2.

Hoàn thiện chính sách, nâng cao chất lượng dịch vụ và phát triển mạng lưới chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em. Ảnh: T.A

Đồng thời, hoàn thiện chính sách đào tạo, quản lý hành nghề, vị trí việc làm và chế độ đãi ngộ đối với hộ sinh, cô đỡ thôn bản, nhân viên y tế thôn bản; nghiên cứu chính sách hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội cho cô đỡ thôn bản tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Bộ cũng định hướng chuyển mạnh từ phương thức quản lý tiền kiểm sang hậu kiểm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng cường phân cấp, phân quyền và trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương trong xây dựng, triển khai kế hoạch chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em.

Cùng với đó, Bộ Y tế chú trọng củng cố mạng lưới chỉ đạo chuyên môn kỹ thuật sản - nhi từ trung ương đến địa phương, tăng cường kiểm tra, giám sát các cơ sở cung cấp dịch vụ. Các bệnh viện có năng lực chuyên môn, trường đại học và bệnh viện tư nhân đủ điều kiện sẽ được huy động tham gia chỉ đạo tuyến, hỗ trợ chuyên môn, giám sát và chuyển giao kỹ thuật, đặc biệt tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Công tác giám sát tử vong mẹ được tăng cường thông qua phân tích hồi cứu nguyên nhân, yếu tố ảnh hưởng, phản hồi thông tin và hỗ trợ thực hiện các khuyến nghị; đồng thời tổng kết, chia sẻ kinh nghiệm từ các trường hợp tử vong mẹ và bệnh nặng sản khoa.

Về chuyên môn, Bộ Y tế đặt nhiệm vụ rà soát, cập nhật và ban hành các hướng dẫn về chăm sóc trước sinh, trong sinh, sau sinh, cấp cứu sản khoa, hồi sức sơ sinh và điều trị trẻ sơ sinh bệnh lý trên cơ sở bằng chứng khoa học mới, khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới và điều kiện thực tiễn Việt Nam. 

Các hướng dẫn sẽ chú trọng quản lý thai nghén nguy cơ cao, phát hiện sớm bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần ở phụ nữ mang thai và bà mẹ sau sinh, chăm sóc dinh dưỡng, phòng ngừa bạo lực đối với phụ nữ mang thai và theo dõi trẻ sinh ra từ những bà mẹ có nguy cơ trong thai kỳ.

Đặc biệt, Bộ định hướng quản lý mổ lấy thai bằng phân loại Robson tại các cơ sở khám, chữa bệnh, tăng cường giám sát chỉ định phẫu thuật, áp dụng các phương pháp giảm đau khi chuyển dạ và mô hình người thân đồng hành với sản phụ nhằm hạn chế các trường hợp mổ lấy thai không có chỉ định y khoa.

Một nhiệm vụ quan trọng khác là nâng cao chất lượng chăm sóc liên tục cho bà mẹ và trẻ sơ sinh từ gia đình, cộng đồng đến cơ sở y tế. Trong đó, bảo đảm phụ nữ mang thai được quản lý thai nghén, sàng lọc, phân tầng nguy cơ và chuyển tuyến kịp thời; chú trọng phát hiện các nguy cơ như tăng huyết áp, tiền sản giật, đái tháo đường thai kỳ và các bệnh lý nền ảnh hưởng đến thai kỳ.

Ngành y tế cũng đẩy mạnh dự phòng sinh non, chăm sóc sơ sinh thiết yếu sớm, nuôi con bằng sữa mẹ, phương pháp Kangaroo và chăm sóc trẻ sinh non, nhẹ cân, trẻ mắc bệnh lý. Y tế cơ sở được tăng cường năng lực phát hiện sớm dấu hiệu trầm cảm ở phụ nữ mang thai và bà mẹ sau sinh, đồng thời lồng ghép chăm sóc sức khỏe tâm thần trong hoạt động chăm sóc sau sinh tại nhà.

Đối với cấp cứu sản khoa và hồi sức sơ sinh, các giải pháp tập trung nâng cao năng lực phát hiện, xử trí ban đầu những tai biến thường gặp như băng huyết sau sinh, tăng huyết áp, tiền sản giật, sản giật và nhiễm khuẩn. Bộ Y tế định hướng củng cố hệ thống cung cấp máu phục vụ cấp cứu, xây dựng mạng lưới ngân hàng máu sống tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo; nâng cao năng lực phẫu thuật lấy thai cấp cứu và vận hành hiệu quả quy chế báo động đỏ tại bệnh viện, tỉnh, thành phố. 

Đồng thời, duy trì góc sơ sinh tại phòng sinh, phòng mổ, củng cố các đơn nguyên sơ sinh tại bệnh viện khu vực và nâng cao năng lực thực hiện các kỹ thuật hồi sức, điều trị chuyên sâu như thở máy, bơm surfactant, thay máu sơ sinh và liệu pháp hạ thân nhiệt. Công tác chuyển tuyến cấp cứu sản khoa, sơ sinh cũng được chú trọng, nhất là tại vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, hải đảo và những địa bàn dễ bị chia cắt do thiên tai, thảm họa.

Bên cạnh nâng cao chất lượng chăm sóc và cấp cứu, Bộ Y tế đặt mục tiêu phát triển năng lực chẩn đoán, hồi sức và điều trị chuyên sâu bệnh lý sơ sinh. Trong đó, mở rộng sàng lọc sơ sinh bằng các kỹ thuật hiện đại như khối phổ kép (MS/MS), giải trình tự gen thế hệ mới (NGS) để phát hiện sớm các rối loạn chuyển hóa và bệnh di truyền.

Đồng thời, phát triển các kỹ thuật chuyên sâu như lọc máu liên tục, thẩm phân phúc mạc cấp cứu, thay máu sơ sinh và liệu pháp hạ thân nhiệt chỉ huy trong điều trị bệnh não thiếu ô xy - thiếu máu cục bộ. Ngành y tế cũng phải xây dựng phương án duy trì các dịch vụ chăm sóc trước sinh, cấp cứu sản khoa, sinh an toàn, chăm sóc sau sinh và sơ sinh trong tình huống thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, bảo đảm phụ nữ mang thai, bà mẹ và trẻ sơ sinh không bị gián đoạn tiếp cận dịch vụ thiết yếu.

Về nguồn nhân lực, Bộ Y tế xác định cần triển khai đồng bộ các chính sách thu hút, sử dụng và giữ chân bác sĩ sản - nhi, hộ sinh, điều dưỡng chuyên ngành sản phụ khoa và sơ sinh làm việc lâu dài tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo và địa bàn đặc biệt khó khăn. Việc đào tạo được gắn với nhu cầu sử dụng của từng địa phương, ưu tiên tuyển sinh, đào tạo nhân lực là người địa phương và bảo đảm bố trí công việc phù hợp sau đào tạo. 

Chương trình đào tạo, đào tạo liên tục tập trung vào năng lực quản lý thai nghén nguy cơ cao, chăm sóc trước sinh, xử trí cấp cứu sản khoa, hồi sức sơ sinh và chăm sóc sau sinh liên tục. Mạng lưới cô đỡ thôn bản tiếp tục được duy trì, củng cố và phát triển, đi kèm chính sách hỗ trợ phụ cấp hằng tháng, bảo hiểm y tế; đồng thời tăng cường luân phiên cán bộ, đào tạo thực hành và hướng dẫn chuyên môn tại tuyến cơ sở.

Để bảo đảm nguồn lực thực hiện kế hoạch, Bộ Y tế định hướng đổi mới cơ chế tài chính theo hướng từng bước phân bổ ngân sách dựa trên kết quả đầu ra và mức độ khó khăn của địa phương. Nguồn lực sẽ được ưu tiên cho những địa bàn có tỷ lệ tử vong mẹ, tử vong sơ sinh cao, tỷ lệ đẻ tại nhà cao và khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo. Bộ cũng nghiên cứu mở rộng phạm vi chi trả bảo hiểm y tế đối với một số dịch vụ dự phòng, chăm sóc trước sinh, sau sinh và chăm sóc thiết yếu cho trẻ sơ sinh; đồng thời lồng ghép các hoạt động với chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình về y tế, dân số, dinh dưỡng, giảm nghèo bền vững và sử dụng hiệu quả nguồn viện trợ, tài trợ hợp pháp.

Trong lĩnh vực quản lý thông tin và chuyển đổi số, nhiệm vụ trọng tâm là chuẩn hóa bộ chỉ số theo dõi sức khỏe bà mẹ, trẻ em và sức khỏe sinh sản; hoàn thiện cơ sở dữ liệu chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em (eMCH), kết nối với các phần mềm quản lý khám, chữa bệnh, bệnh án điện tử và tiêm chủng mở rộng. 

Ngành y tế sẽ nghiên cứu liên thông dữ liệu với cơ sở dữ liệu dân cư, hộ tịch và thống kê sinh tử để quản lý các trường hợp tử vong mẹ, tử vong trẻ em; ứng dụng bảng điều khiển, hệ thống cảnh báo sớm và báo cáo tự động nhằm theo dõi các chỉ số trọng tâm. Công nghệ thông tin cũng được đẩy mạnh trong hội chẩn từ xa, báo động đỏ liên viện, khám chữa bệnh từ xa và đánh giá sau chuyển tuyến. Song song với đó là đào tạo năng lực thu thập, phân tích và sử dụng dữ liệu cho cán bộ quản lý, phục vụ xây dựng chính sách, lập kế hoạch và giám sát chất lượng dịch vụ.

Đối với công tác truyền thông, Bộ Y tế định hướng đổi mới nội dung và hình thức theo hướng lấy người dân làm trung tâm, chuyển từ truyền thông thụ động sang tư vấn, giáo dục sức khỏe chủ động, liên tục từ giai đoạn tiền hôn nhân, trước sinh, trong sinh đến sau sinh. Các sản phẩm truyền thông như video ngắn, infographic, audio bằng tiếng dân tộc thiểu số sẽ được đa dạng hóa, phù hợp với văn hóa từng vùng miền, tập trung hướng dẫn nhận biết dấu hiệu nguy hiểm trong thai kỳ, dinh dưỡng hợp lý, sinh con an toàn tại cơ sở y tế và phòng ngừa biến chứng sản khoa, sơ sinh. Bộ cũng chú trọng truyền thông tới người chồng và các thành viên trong gia đình nhằm nâng cao trách nhiệm chia sẻ, đồng hành trong chăm sóc thai kỳ, chuẩn bị sinh, phòng chống trầm cảm sau sinh và chăm sóc trẻ nhỏ.

Cùng với truyền thông trực tiếp, ngành y tế đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số, vận động người dân sử dụng Sổ sức khỏe điện tử trên VNeID, Hồ sơ sức khỏe điện tử toàn dân và các ứng dụng chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em để theo dõi dinh dưỡng, thai kỳ, lịch tiêm chủng và nhận cảnh báo sớm. 

Các kênh thông tin y tế chính thống trên không gian mạng được tăng cường nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn thông tin sai lệch và những mẹo chữa bệnh dân gian nguy hiểm đối với bà mẹ, trẻ sơ sinh. Đồng thời, phát huy vai trò của chính quyền địa phương, tổ chức chính trị - xã hội, y tế cơ sở, cô đỡ thôn bản và người có uy tín trong cộng đồng để vận động người dân thay đổi hành vi, xóa bỏ tập quán lạc hậu như đẻ tại nhà, mê tín dị đoan và kiêng khem không khoa học.

Kế hoạch hành động chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh đến 2030- Ảnh 3.Việt Nam đăng cai Đại hội đồng phụ nữ ASEAN, thúc đẩy an toàn cho phụ nữ và trẻ em

SKĐS - Hội LHPN Việt Nam đăng cai Cuộc họp Hội đồng và Đại hội đồng ACWO năm 2026 tại Hà Nội, thúc đẩy hợp tác khu vực trong bảo vệ phụ nữ, trẻ em trước những nguy cơ trên không gian mạng.





Ý kiến của bạn