Ðịnh hướng chiến lược dinh dưỡng quốc gia giai đoạn 2011 – 2020

Tin nóng y tế
Giải quyết đồng bộ các vấn đề sức khỏe có liên quan đến dinh dưỡng, trong đó ưu tiên hạ thấp tỷ lệ SDD thấp còi ở trẻ em, giảm tình trạng thiếu VCDD,

Định hướng chính của chiến lược

Giải quyết đồng bộ các vấn đề sức khỏe có liên quan đến dinh dưỡng, trong đó ưu tiên hạ thấp tỷ lệ SDD thấp còi ở trẻ em, giảm tình trạng thiếu VCDD, kiểm soát thừa cân béo phì, các bệnh mạn tính không lây liên quan đến dinh dưỡng, dinh dưỡng hợp lý cho người cao tuổi và đảm bảo ATVSTP.

Hoạt động dinh dưỡng cần được tiếp tục triển khai trên phạm vi toàn quốc, có các giải pháp can thiệp đặc thù cho các vùng miền và các nhóm đối tượng cụ thể.

Truyền thông vận động là giải pháp quan trọng nhằm đưa chỉ tiêu về dinh dưỡng là một chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội trong Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.

Tăng cường xã hội hóa, đẩy mạnh hợp tác quốc tế, sử dụng có hiệu quả các nguồn đầu tư trong triển khai CLDDQG.

Mục tiêu tổng quát của chiến lược

Đến năm 2020, bữa ăn của người dân ở tất cả các vùng đủ về số lượng, cân đối về chất lượng, đảm bảo ATVSTP. Đẩy mạnh giảm SDDTE, đặc biệt thể thấp còi, nhằm nâng cao tầm vóc và thể lực của người Việt Nam, kiểm soát được tình trạng thừa cân béo phì, góp phần hạn chế các bệnh mạn tính không lây có liên quan đến dinh dưỡng.

Để đạt mục tiêu của CLDDQG giai đoạn 2011-2020, giải pháp phát triển nguồn nhân lực là rất quan trọng: Củng cố và phát triển mạng lưới cán bộ làm CTVDD từ trung ương tới địa phương và ở các bộ/ngành; Tăng cường đào tạo cán bộ chuyên sâu làm công tác dinh dưỡng (sau đại học, cử nhân, kỹ thuật viên dinh dưỡng/ dinh dưỡng tiết chế). Để triển khai hiệu quả các hoạt động trong khuôn khổ của chiến lược thì cần phải đa dạng hóa các nguồn lực tài chính và từng bước tăng mức đầu tư cho công tác dinh dưỡng, trong đó ngân sách Nhà nước đóng vai trò chủ đạo. Kinh phí thực hiện CLDDQG được huy động từ các nguồn khác nhau là rất cần thiết.

Giải pháp về chuyên môn kỹ thuật

Đẩy mạnh công tác TTGDDD nhằm nâng cao kiến thức và thực hành dinh dưỡng hợp lý cho toàn dân phù hợp với các dân tộc, vùng miền... Đa dạng hóa các loại hình, phương thức, nội dung phù hợp với từng nhóm đối tượng.

Đẩy mạnh công tác giáo dục dinh dưỡng và thể chất trong hệ thống trường học: Xây dựng và triển khai chương trình dinh dưỡng học đường (bao gồm cả bữa ăn và sữa học đường), chú trọng lứa tuổi mầm non và tiểu học.

Xây dựng các giải pháp can thiệp dinh dưỡng và thực phẩm đặc hiệu cho các đối tượng theo vùng miền và đáp ứng kịp thời trong tình trạng khẩn cấp.

Chăm sóc dinh dưỡng hợp lý cho bà mẹ trước, trong và sau sinh và trẻ em, đặc biệt trẻ dưới 2 tuổi.

Xây dựng trung tâm giám sát dinh dưỡng và thực phẩm ở trung ương và các viện khu vực nhằm giám sát diễn biến tiêu thụ thực phẩm và tình trạng dinh dưỡng một cách hệ thống.

Phát triển và nâng cao hiệu quả của mạng lưới dịch vụ, tư vấn và phục hồi dinh dưỡng.

Áp dụng kinh nghiệm và thành tựu khoa học dinh dưỡng trong dự phòng béo phì, hội chứng chuyển hóa và các bệnh mạn tính không lây liên quan đến dinh dưỡng.

Giải pháp về khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế

Nâng cao năng lực, tổ chức thực hiện nghiên cứu khoa học về dinh dưỡng và thực phẩm. Khuyến khích nghiên cứu, phát triển và chuyển giao công nghệ các sản phẩm dinh dưỡng đặc hiệu.

Đẩy mạnh tin học hóa và xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành dinh dưỡng và ATVSTP.

Tăng cường sử dụng thông tin và bằng chứng khoa học trong xây dựng chính sách, lập kế hoạch, chương trình/dự án dinh dưỡng ở các cấp.

Chủ động tích cực hợp tác với các quốc gia, các viện, trường tiên tiến trong khu vực và trên thế giới trong lĩnh vực nghiên cứu, đào tạo để nhanh chóng tiếp cận và phát triển nguồn nhân lực cho ngành.  

PGS.TS. Lê Thị Hợp (Viện trưởng Viện Dinh dưỡng)


Ý kiến của bạn