Chương trình chăm sóc và điều trị HIV/AIDS ở nước ta được mở rộng, nhiều bệnh nhân có cơ hội tiếp cận với thuốc kháng virut (ARV) và các dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ, cuộc sống của người nhiễm HIV có nhiều thay đổi. Để làm rõ hơn vấn đề này, phóng viên báo Sức khỏe & Đời sống đã có cuộc trao đổi với PGS. TS. Bùi Đức Dương - Phó Cục trưởng Cục Phòng, chống HIV/AIDS.
Phóng viên (PV): Phát hiện sớm và điều trị sớm cho người nhiễm HIV là xu hướng hiện nay mà thế giới và nước ta đang hướng tới, ông có thể cho biết những lợi ích của việc điều trị sớm này?
PGS.TS. Bùi Đức Dương: Thời điểm nhiễm HIV chúng ta thường khó biết, vì thể trạng bệnh nhân gần như bình thường. Trong suốt quá trình từ khi nhiễm HIV đến khi có các biểu hiện triệu chứng lâm sàng và điều trị ARV là một quá trình khá dài. Giai đoạn này tải lượng virut trong cơ thể họ rất cao nên khả năng lây nhiễm là rất lớn. Thế nhưng khi bệnh nhân được điều trị ARV, chỉ trong vòng từ 6 - 8 tuần thì tải lượng virut trong máu giảm đi rất nhanh và khả năng lây nhiễm gần như không còn. Sau đó, việc điều trị cho người nhiễm HIV/AIDS cũng giống như điều trị một bệnh mạn tính khác như đái tháo đường, tăng huyết áp...
Vì vậy, điều trị sớm càng gần với giai đoạn được chẩn đoán thì khả năng lây nhiễm cho người xung quanh được hạn chế. Có thể nói, quan điểm mới đây coi việc điều trị ARV là một biện pháp dự phòng lây nhiễm HIV. Qua các nghiên cứu của nhiều quốc gia (HPTN 052) cho biết, nếu như điều trị sớm ARV cho những cặp bạn tình trái dấu (một người nhiễm dương tính với HIV và người kia âm tính với HIV - không nhiễm) sẽ làm giảm tỷ lệ lây nhiễm HIV tới 96%. Còn nếu như điều trị sớm ARV cho những người nhiễm HIV sẽ giảm khả năng bị bệnh lao ở người nhiễm HIV tới 65%. Việc điều trị sớm không chỉ dự phòng mà còn làm giảm tỷ lệ các nhiễm khuẩn cơ hội, giảm tử vong những bệnh liên quan đến HIV/AIDS. Chúng ta đều biết, ở người nhiễm HIV thì nhiễm khuẩn cơ hội làm cho bệnh trầm trọng hơn và bệnh nhân tử vong thường là do các bệnh nhiễm khuẩn cơ hội này. Thực tế ở nước ta cũng cho thấy, khi triển khai tăng cường hệ thống điều trị, số lượng bệnh nhân tử vong giảm đi rất rõ rệt. Năm 2007 - 2008 có 7.000 - 8.000 bệnh nhân tử vong/năm, đến năm 2010 - 2011 giảm xuống còn 1.700 - 1.800 bệnh nhân tử vong/năm. 6 tháng đầu năm 2012 còn 600 bệnh nhân tử vong.
Mục tiêu từ nay đến năm 2015 của thế giới và nước ta vẫn là hướng tới “Ba không”: không nhiễm mới HIV, không kỳ thị phân biệt đối xử và không tử vong do các bệnh liên quan đến HIV. Nhưng mục tiêu chính của năm 2012 là không tử vong do các bệnh liên quan đến HIV. Vì vậy vai trò của điều trị, đặc biệt là phát hiện sớm và điều trị sớm là vô cùng lớn và cần tăng cường mở rộng các dịch vụ có liên quan đến dự phòng, chăm sóc và điều trị.
PV: Làm thế nào để có thể phát hiện và điều trị sớm cho người bệnh?
PGS.TS. Bùi Đức Dương: Điều quan trọng là bản thân người bệnh khi có hành vi nguy cơ cao họ phải biết và đi xét nghiệm. Muốn như vậy, cần phải tuyên truyền cho họ (những người có hành vi nguy cơ cao) đi xét nghiệm tự nguyện và khuyến khích họ đến xét nghiệm nhiều lần. Vì không phải xét nghiệm 1 lần thấy âm tính là có thể yên tâm.
Để phát hiện được sớm, cần triển khai dịch vụ xét nghiệm này xuống cộng đồng, đặc biệt ở những nơi có tỷ lệ HIV cao và có nhiều người có yếu tố nguy cơ, ví dụ người nghiện chích ma túy, gái mại dâm và người đồng tính nam... Dịch vụ xét nghiệm phải thuận lợi cho người bệnh và phải dễ dàng triển khai bởi hệ thống y tế cơ sở. Đây là xu hướng của các tổ chức quốc tế mà nước ta cũng đang áp dụng. Điều quan trọng sau khi được chẩn đoán họ phải được quản lý, theo dõi và điều trị khi có thể.
Hiện nay dựa trên hệ thống y tế sẵn có của Việt Nam, đặc biệt là hệ thống y tế xã phường, chúng ta sẽ cung cấp thuốc ARV cho bệnh nhân và trạm y tế sẽ quản lý cả nhiễm khuẩn cơ hội và các biện pháp can thiệp giảm tác hại khác để phòng bệnh. Y tế xã, phường là nơi thuận lợi nhất cung cấp các dịch vụ này một cách lâu dài và đảm bảo tính bền vững cho người bệnh tiếp cận được.
PV: Hiện nay, ở nước ta đã nâng ngưỡng bắt đầu điều trị cho người nhiễm HIV với CD4 là 350. Như vậy, nhiều người bệnh sẽ được tiếp cận với thuốc nhưng đi liền đó là những khó khăn mà chúng ta sẽ gặp phải. Ông có thể cho biết đó là những khó khăn gì?
PGS.TS. Bùi Đức Dương: Từ năm 2010 - 2011 chúng ta nâng ngưỡng bắt đầu điều trị với CD4 là 350. Hiện nay ở nước ta tại 2 tỉnh Điện Biên và Cần Thơ bắt đầu điều trị với ngưỡng CD4 trên 350 (nghĩa là lúc đó chưa có dấu hiệu lâm sàng) cho những cặp bạn tình trái dấu để bảo vệ cho người âm tính. Và, từ nay đến năm 2015 có 4 đối tượng chúng ta sẽ ưu tiên, đó là trẻ em bị nhiễm HIV (xét nghiệm HIV là điều trị ngay không cần biết CD4 là bao nhiêu), phụ nữ mang thai (xét nghiệm khi mang thai và điều trị cho họ càng sớm càng tốt), lao/HIV và các cặp bạn tình trái dấu (mở rộng điều trị). Trong tương lai xa sẽ nhắm tới người nghiện chích ma túy (tùy theo điều kiện kinh tế) vì đây là đối tượng dễ nhiễm, dễ lây lan. Điều trị được như vậy chúng ta sẽ giảm được số lượng yếu tố nguy cơ cao.
Tuy nhiên, khi tăng ngưỡng CD4 bắt đầu điều trị sẽ có nhiều bệnh nhân có nhu cầu điều trị, đồng nghĩa với việc tăng số lượng thuốc để đảm bảo duy trì lâu dài cho họ. Số lượng bệnh nhân điều trị tăng lên sẽ kéo theo kinh phí để mua thuốc điều trị đáp ứng cho người cũ và người mới. Đây là mối quan tâm lớn đối với Chính phủ Việt Nam cũng như Bộ Y tế để làm sao duy trì một cách lâu dài hoạt động này. Và kéo theo đó là nguồn nhân lực phải bao phủ rộng khắp để tổ chức triển khai thực hiện cung cấp dịch vụ này.
Hiện chúng ta có 78% xã/phường, gần 98% số huyện/thị đã có người nhiễm HIV và ở nơi nào có người nhiễm thì chúng ta phải có hệ thống bảo vệ cho họ, quản lý và cung cấp dịch vụ cho họ...
PV: Chúng ta đã và đang ứng phó với vấn đề này như thế nào?
PGS.TS. Bùi Đức Dương: Trước hết là về nguồn kinh phí. Chính phủ đang giao cho Bộ Y tế xây dựng Dự án Huy động nguồn vốn cho hệ thống phòng chống HIV/AIDS trong đó có nguồn kinh phí mua ARV cung cấp điều trị cho bệnh nhân đảm bảo lâu dài. Trong huy động đó phải sử dụng nhiều nguồn khác nhau, từ nguồn ngân sách nhà nước, Trung ương, địa phương, thông qua hệ thống bảo hiểm y tế, xã hội hóa các dịch vụ, kêu gọi đầu tư của các tổ chức quốc tế...
Để làm được việc này thì cần phải nâng cao năng lực, đào tạo cho hệ thống y tế cơ sở từ huyện đến xã phường, thôn bản. Khi lồng ghép vào hệ thống y tế chung sẽ giảm tải một số chi phí cho người bệnh cũng như của thầy thuốc.
Trong thời gian tới, các dự án và chương trình mục tiêu quốc gia phải hỗ trợ đầu tư tăng dần từng bước một để bù đắp nguồn lực sẽ bị cắt giảm của các tổ chức quốc tế, tăng từng bước kinh phí mua thuốc và các kinh phí hỗ trợ cho hệ thống này.
PV: Xin cảm ơn ông!
Thu Hương (thực hiện)