Ðiện ảnh Việt “Mười năm tình cũ”

Văn hóa – Giải trí
Mượn tên một ca khúc nhạc vàng, nhà biên kịch Đoàn Minh Tuấn đã dùng hình ảnh này để ví von rằng, một thập kỷ trôi qua, điện ảnh Việt Nam dường như chưa có gì đổi mới.

Mượn tên một ca khúc nhạc vàng, nhà biên kịch Đoàn Minh Tuấn đã dùng hình ảnh này để ví von rằng, một thập kỷ trôi qua, điện ảnh Việt Nam dường như chưa có gì đổi mới. Nhân hội thảo khoa học: Một thập kỷ điện ảnh Việt Nam – nhìn nhận và đánh giá do Cục Điện ảnh Việt Nam và Hội Điện ảnh Việt Nam tổ chức ngày 8/3/2012, báo Sức khỏe&Đời sống xin giới thiệu bài viết của anh.

Dám nhìn thẳng vào thực trạng

Nhìn lại 10 năm là nhìn lại lịch sử của một giai đoạn. Vậy chúng ta đứng từ góc độ nào để nhìn lại hay đánh giá một giai đoạn trong lịch sử điện ảnh?

Từ góc độ của nền văn hóa-xã hội, 10 năm qua, những chính sách văn hóa-xã hội nào tác động cả tích cực lẫn tiêu cực đến điện ảnh? Đây có thể là một công trình nghiên cứu của một cá nhân hay một tập thể, đòi hỏi phải có sự đầu tư từ phía Nhà nước.

 Nếu so với các phim trước như phim “Cánh đồng hoang” (ảnh), điện ảnh Việt Nam không có bước tiến đáng kể.
Hay từ góc độ nghệ thuật điện ảnh hay là nghệ thuật làm phim, chúng ta nghiên cứu và so sánh xem, 10 năm qua, trong nghệ thuật làm phim có những tiến bộ gì so với những năm trước? Cái để so sánh là:  Điện ảnh Việt Nam những năm trở về trước; Điện ảnh các nước trong khu vực Đông Nam Á 10 năm qua; Điện ảnh thế giới cũng trong 10 năm qua. Nhưng, chúng ta chưa có ai làm việc này. Chúng ta có Viện Nghiên cứu phim, thậm chí là hai cơ sở, ở Hà Nội và TP.HCM, nhưng không ai có thể làm những việc này.
 
Chúng ta cũng có những Viện nghiên cứu văn hóa nghệ thuật trong trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội cũng có nhưng dường như cũng không có ai nghiên cứu vấn đề này. Nói như vậy để thấy hình như chúng ta chỉ quan tâm tới việc làm phim mà không hề chú ý đến việc nghiên cứu phim. Nếu làm phim mà không có sự nghiên cứu xem mình đang ở đâu, xung quanh đang làm gì, thế giới đang ở đâu… thì dù có làm bao nhiêu phim đi chăng nữa, chúng ta vẫn ở trong “vùng trũng” của điện ảnh khu vực và thế giới mà thôi.

Từ góc độ chuyên môn của mình, tôi chỉ xin nói một vài điều nho nhỏ. Về nghệ thuật làm phim, khi nhìn vào một giai đoạn, các chuyên gia điện ảnh đã chỉ ra những vấn đề cần nghiên cứu. Về khâu biên kịch, xem xét cách kể chuyện có gì mới không? Về đạo diễn, xem xét cách dàn dựng có gì khác, ấn tượng không? Về quay phim, tìm xem có những cảnh quay nào ấn tượng, những góc máy nào tạo được mỹ cảm cho người xem, những động tác máy nào thể hiện được không khí câu chuyện, chiều sâu nhân vật hoặc những cách biểu hiện mà chỉ trong điện ảnh mới có được? Về dựng phim, có cách dựng nào giàu cảm xúc, mang tính đột phá? Cách dựng nào giữ được tiết tấu của câu chuyện hay giữ được nhịp điệu của từng đoạn hay trường đoạn phim? Đoạn dựng nào có thể coi là mẫu mực trong việc kết hợp cách kể, cách dàn dựng, cách quay, cách sử dụng ánh sáng, âm thanh, lời thoại?

Về mặt diễn xuất của diễn viên, có vai diễn nào mà chúng ta có nhu cầu xem lại nhiều lần không? những cảnh nào, đoạn nào cần phải trích ra làm khuôn mẫu… Nếu coi thường những điều trên thì chúng ta không có lịch sử điện ảnh. Một nền điện ảnh không nhìn vào những mặt mạnh, mặt yếu của mình mà cứ như người dân hôm nay, đổ hết ra đường kiếm sống, đổ xô đi làm kinh tế thị trường, lấy tiêu chí làm được phim thương mại là đỉnh cao của tài năng thì nền điện ảnh đó chỉ như bong bóng xà phòng mà thôi.

Ngắm gương mặt điện ảnh 10 năm qua

Trong 10 năm qua, cách kể chuyện của điện ảnh chúng ta hầu như không có gì mới. Các câu chuyện đều đi theo cấu trúc của dòng thời gian nên nhịp điệu đều đều. Một số câu chuyện mà phần đầu tung ra rất dữ dội nhưng khi vào phim lại bị lạc mất tuyến nhân vật chính. Điển hình là phim Cánh đồng bất tận.  Nhân vật cô gái điếm gieo ở đầu phim, khi lên thuyền, người xem lại thấy câu chuyện khác: câu chuyện về ba người trên thuyền. Phần sau còn lan man hơn (Tôi chỉ dám phê bình phim chứ không dám phê bình tác giả).

 
Cảnh trong phim Cánh đồng bất tận.

Về dàn dựng, trong lịch sử điện ảnh Việt Nam, chúng ta hầu như không nói đến thuật ngữ công nghệ. Lịch sử điện ảnh thế giới có một phần quan trọng nghiên cứu những tiến bộ công nghệ áp dụng vào điện ảnh. Trong 10 năm qua, một số đạo diễn trẻ đã áp dụng tương đối thành công những công nghệ mới trong việc dàn dựng bối cảnh, trong việc kể chuyện. Cách làm này được khán giả trẻ đón nhận nồng nhiệt. Tiêu biểu cho những đạo diễn này là Nguyễn Quang Dũng. Những bí mật nhà nghề này chúng ta nói đến nhưng không nói được là nó diễn ra như thế nào, kể cả trong một số đĩa DVD phim của Quang Dũng.

Nếu lấy những phim của 10 năm trở lại đây so với một số phim thời trước thì vẫn thấy không tiến bộ, thậm chí còn thụt lùi. Chẳng hạn, những trường đoạn về chiến tranh nếu so với các phim trước như Chị Tư Hậu, Cánh đồng hoang thì thấy không hơn về mọi mặt. Trong việc dàn dựng, có nhiều phim thừa nhiều cảnh, nhiều đoạn, thậm chí thừa cả một trường đoạn. Những đoạn thừa này, nếu cắt đi, vẫn không ảnh hưởng đến bộ phim.

Chưa có một cảnh quay nào khiến người xem phải trầm trồ vì tài nghệ của nhà quay phim. Chưa có một động tác máy nào khiến khán giả phải hỏi, họ quay cảnh này như thế nào? Nói như vậy để thấy ngôn ngữ điện ảnh của chúng ta chưa giàu có gì. Sự tiến bộ về kỹ thuật quay phim trên thế giới đã có những bước đi mạnh mẽ. Nhưng thử hỏi ai là người đi tiên phong trong việc mang kỹ thuật quay phim hiện đại về Việt Nam?

Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực trẻ cũng nhiều chuyện đáng bàn.

Có thể nói, hàng năm, nhiều người làm phim trẻ vào đời. Nhưng vì có phim truyền hình nên thế hệ này đổ xô đi làm phim truyền hình, không ai chịu đi làm phó đạo diễn trong dăm năm như trước nữa. Điều đó dẫn đến thực trạng thế hệ này dù có làm hàng trăm tập phim truyền hình thì vẫn dậm chân tại chỗ. Nếu làm phim điện ảnh thì chỉ được một hai phim là cạn vốn, không sáng tạo được nữa. Và số đạo diễn làm phim điện ảnh cũng không có ai tạo được dấu ấn của mình vì họ chạy theo thị trường, làm những phim kiểu ''ra khỏi rạp là quên ngay''. Cho nên vấn đề tìm kiếm tài năng trẻ vẫn luôn là câu hỏi khó đối với điện ảnh nước ta.   

Đoàn Minh Tuấn


Ý kiến của bạn